Thứ Hai, 16 tháng 12, 2013

Kiến trừ thập nhị khách

Trong tục xem ngày tốt, ngoài việc coi cát tinh (sao tốt) và hung tinh (sao xấu) người ta còn xét đến kiến trừ thập nhị khách (12 trực). Có tất cả 12 trực, mỗi ngày 1 trực theo trình tự:

1. Kiến;     2. Trừ;      3. Mãn;      4. Bình;     5. Định;     6. Chấp;     7. Phá;     8. Nguy;     9. Thành; 10. Thu;    11. Khai;   12. Bế.

(Hình chỉ mang tính minh họa)

Thời kỳ đầu 12 trực dùng để chỉ tên 12 tháng âm lịch, về sau chuyển hoá dùng để chỉ ngày tốt ngày xấu. Trong bản kê cát tinh, hung tinh, có 1 số sao vận hành tương ứng với ngày trực. Thí dụ: Sao Nguyệt Phá trùng với trực Phá, sao Thiên Hỷ trùng với trực Thành, sao Sinh Khi trùng với Trực Khai v.v...Cách sắp xếp 12 trực có quan hệ đến sao Phá Quân (còn gọi là Diêu quang tinh) tức là sao đứng đầu trong hình cán gáo thuộc chùm sao Đại Hùng Tinh (Bắc Đẩu).
Mười hai tháng chi chỉ 12 tháng được xếp theo 24 phương vị: Tý (tháng 11) thuộc phương Bắc Ngọ (tháng 5) thuộc phương Nam Mão (tháng 2) thuộc phương Đông Dậu (tháng 8) thuộc phương TâyTiết lập xuân vào lúc hoàng hôn (chập tối) sao cán gáo đó chỉ vào hướng Đông Bắc hợp với cung Dần, nên gọi là tháng Giêng (lập xuân) Kiến Dần bằng trực Kiến vào ngày Dần. Đến tiết Kinh Trập (tháng 2), sao cán gáo đó cũng đúng lúc hoàng hôn chỉ chính hướng đông hợp với cung Mão nên gọi tháng 2 (Kinh Trập) Kiến Mão= Trực Kiến vào những ngày Mão. Đến tiết Thanh Minh (tháng 3) sao cán gáo chỉ hướng Đông Nam hợp cung Thìn nên gọi là tháng 3 Kiến Thìn. Trực Kiến vào những ngày thìn, lần lượt quay vòng như vậy, sau 12 tháng trở lại tháng Giêng Kiến Dần.
Chu kỳ quay hàng chi là 12 ngày, ngày trực cũng 12 ngày, nhưng vì tháng giêng Kiến Dần, Tháng 2 Kiến Mão, nên có hiện tượng mỗi tháng có 2 ngày liên tiếp cùng một trực, hai ngày đó gọi là "Trùng Kiến". Bắt đầu từ ngày tiết đầu tiên của tháng nào thi theo trực của tháng đó.

Th.Âm123456789101112
Tên Tiết khíTừ
Lập
Xuân
Từ
Kinh
Trập
Từ
Thanh
Minh
Từ
Lập
Hạ
Từ
Mang
Chủng
Từ
Tiểu
Thử
Từ
Lập
Thu
Từ
Bạch
Lộ
Từ
Hàn
Lộ
Từ
Lập
Đông
Từ
Đại
Tuyết
Từ
Tiểu
Hàn
Trùng với sao thuận hàng chiTính chất tốt xấu
th. dương4-5/26-7/35-6/46-7/56-7/67-8/78-9/88-9/98-9/107-8/117-8/126-7/1
KiếnDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuThổ phủ (xấu)Tốt với xuất hành, giá thú nhưng xấu với động thổ (vì trùng với Thổ phủ) (?)
TrừMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnTốt nói chung
MãnThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThiên Phủ (tốt)
Thổ ôn (xấu)
Quả tú (xấu)
Thiên cấu (xấu)
Tốt với tế tự, cầu tài, cầu phú, xấu với các việc khác (vì trùng sao xấu)
BìnhTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTiểu hao (xấu)Tốt với mọi việc (?)
ĐịnhNgọMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵTam hợp, thiên giải (tốt).
Đại hao, Tử khí, Quan phủ (xấu)
Tốt với cầu tài, ký hợp đồng, yến tiệc xấu với tố tụng, tranh chấp, chữa bệnh (vì có Đại hao, Quan phù)
ChấpMùiThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọTốt với khởi công xây dựng, xấu với xuất hành, di chuyển, khai trương
PháThânDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiNguyệt phá (xấu)Xấu với mọi việc, riêng chữa bệnh, dỡ nhà củ, phá bỏ đồ củ là tốt
NguyDậuTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânMọi việc đều xấu (?)
ThànhTuấtHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuThiên hỷ, tam hợp (tốt)
Cô thần (xấu)
Tốt với xuất hành, giá thú, khai trương. Xấu với kiện cáo, tranh chấp
ThuHợiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtĐịa phá (xấu)Thu hoạch tốt, kỵ khởi công, xuất hành, an táng
KhaiSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiSinh khíTốt mọi việc, trừ động thổ, an táng
BếSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợiXấu mọi việc, trừ đắp đê, lấp hố rãnh

NĂM HẠN VÀ SAO CHIẾU MẠNG

  Theo người xưa, mỗi năm tuổi có một sao chiếu mạng, trong đó có những sao ảnh hưởng tốt và xấu đến vận hạn từng năm của con người. Ngày nay mọi người vẫn tin vào tập tục cúng sao giải hạn. Dưới đây xin giới thiệu bảng hạn sao chiếu mạng hàng năm theo tuổi âm lịch để các bạn tham khảo.

1. LA HẦU:(Polarstern)
Hạn gặp La Hầu nam hay nữ, nên đề phòng những tai nạn có thể xảy ra trong tháng Giêngtháng 7 Âm Lịch.Sao La Hầu này là hung tinh (sao xấu), nam thì ngừa quan sự, sanh rầy rà, nhiều đoạn ưu sầu, nữ hay có việc rầu buồn, đau máu, sanh dưỡng có bịnh, kỵ tháng Giêng, tháng Bảy. Kỵ đàn ông nhiều, kỵ đàn bà ít.
 Đề phòng: kiện tụng, bệnh tật, thua lỗ vì bị lừa hoặc bị bắt, có tang, chuyện bé xé thành chuyện lớn, đánh nhau,...

Thời gian: nặng nhất là tháng Giêng, tháng 7 (âm lịch).

Giải hạn: Lễ vật: Bông hoa, trà, quả với 9 ngọn đèn cắm theo các vị trí ngôi sao như hình, đặt bàn lễ lạy về hướng Bắc.
La Hầu
Cách khấn: Cung thỉnh Thiên Hoàng Phán Cung Đại Thánh Thân Thủ La Hầu Tinh Quân Vị Tiền. cúng ngày mùng 8, thắp 9 nén nhang tượng trưng cho 9 ngọn đèn.
Bài vị: Giấy màu đen. Viết tên “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân 天宮神首羅侯星君 ”
Hướng đặt bài vị: Sao này thuộc phần hành Thủy, xuất hiện tại hướng chính Bắc, ngày mùng 8 mỗi tháng, vào giờ Hợi (21 giờ - 23 giờ). hướng Bắc (lạy về hướng Bắc). ( Nếu gặp tai tương, ngày mùng 9 cúng tiếp, lễ nghi cũng như cúng ngày mùng 8 )

2. THỔ TÚ: (Saturn)
Sao Thổ Tú này là hung tinh (sao xấu), đi đâu cũng không thuận ý, đề phòng kẻ tiểu nhơn, gia đạo không an, hay có chiêm bao mị mộng, kỵ nuôi thú, kỵ tháng 4, tháng 8, có việc lo buồn. Thổ Tinh gây ra chuyện phiền phức, bệnh tật, kị người mạng Thủy.
* Đề phòng: tiểu nhân hãm hại, bệnh dịch, cãi cọ tranh chấp trong nhà, không nuôi gia cầm. Hạn Tam Kheo (tiểu hạn) coi chừng bị đau mắt, cẩn thận tay chân.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 4 (âm lịch)
* Giải hạn: cúng ngày 19 âm lịch, thắp 5 nén nhang cho 5 ngọn đèn.
* Bài vị: Giấy màu vàng. Viết tên Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân 中央戊己土德星君.
Lễ vật: Hương đăng, trà, quả và 5 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình. Bàn lễ lạy đặt ở giữa nhà, kỵ lộ thiên, van vái tứ phương.Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Hoàng Đại Thanh Thổ Địa, Địa La, Thổ Tú Tinh Quân Vị Tiền. 
Thổ Tú
* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc). Sao này thuộc về hành Thổ, thường xuất hiện tại Trung Ương, ngày 19 âm lịch, vào giờ Tuất (19-21g).

3. THỦY DIỆU:(Merkur)
Sao Thủy Diệu này có kiết, có hung. Đàn ông đi làm ăn khá, đi xa có tài lợi. Đàn bà hay có tai nạn, kỵ đi sông sâu, kỵ tháng 4, tháng 8Sao Thủy Diệu rất nguy hiểm đối với người mạng Hỏa, cần chú ý khi đi đường thủy; chủ về buôn bán đi xa thì đắc lộc.
* Đề phòng: nạn sông nước, đau ốm, kiện tụng, tranh chấp. Mọi việc nên dĩ hoài vi quý.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 4 và tháng 8 (âm lịch)
* Giải hạn: cúng ngày 21 âm lịch, thắp 7 nén nhang tượng trưng cho 7 ngọn đèn.
Bài vị: Giấy màu đen. Viết tên Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân 北方壬癸水德星君.
Lễ vật: Hương đăng, trà, quả với 7 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình. Bàn lễ lạy đặt về hướng Bắc.
Thủy Diệu
Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Thủy Đức Kim Nữ Cung Đại Thánh Bắc Phương Nhâm Quí Thủy Diệu Tinh Quân Vị Tiền.
* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc). Sao này thuộc hành Thủy, xuất hiện mỗi tháng ở hướng Bắc, vào ngày 21 âm lịch, giờ Hợi (21 - 23 giờ).

4. SAO THÁI BẠCH: (Venus)
Hạn gặp Thái Bạch nam hay nữ, không nên khuếch trương cơ sở thương mại đã có sẵn hoặc dự tính những kế hoạch đầu tư lớn lao. Sao Thái Bạch kị người mạng Mộc. Dân gian có câu "Thái Bạch cháy sạch cửa nhà". Bị sao Thái Bạch chiếu hay đau ốm, gặp chuyện cãi cọ, mất của, tiểu nhân lừa đảo hãm hại, tiền của không giữ được.
* Đề phòng: mất của, bệnh tật, tiểu nhân. Hạn Thiên Tinh (tiểu hạn) cẩn thận trong việc cư xử hàng ngày, nếu mắc phải tai vạ thì có thể bị tù tội.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 5 (âm lịch)
* Giải hạn: cúng ngày rằm âm lịch, thắp 8 nén nhang tượng trưng cho 8 ngọn đèn.
Lễ vật: Hương đăng, trà, quả, 8 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình, bàn lễ lạy đặt về hướng Tây.
Thái Bạch
Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Hao Linh Cung Đại Thánh Kim Đức Thái Bạch Tinh Quân Vị Tiền.
* Bài vị: Giấy màu trắng. Viết tên Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân 西方庚辛金德太白星君. 
* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây). Sao này thuộc hành Kim, xuất hiện tại hướng chánh Tây, ngày 15 âm lịch vào giờ Dậu (19 giờ - 21 giờ).


5. SAO THÁI DƯƠNG (Sun):
Sao Thái Dương Vì sao này có kiết, có hung. Đàn ông đi làm ăn đặng sáng suốt, đi xa có tài lợi đặng an khang. Đàn bà làm ăn hay tối tăm, Hạn gặp Thái Dương nam hay nữ, trong tháng 6 và tháng 10 Âm Lịch sẽ gặp vận hanh thông, đắc tài hay đắc lộc.
* Thời gian cúng sao: ngày 1 âm lịch, thắp 12 nén nhang tượng trưng cho 12 ngọn đèn.
* Bài vị: Giấy màu đỏ. Viết tên Nhật Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân 日宮太陽天子星君Lễ vật: Hương đăng, trà, quả với 12 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình. Bàn lễ lạy đặt về hướng Đông.
Thái Dương
Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Uất Ly Cung Đại Thanh Đan Nguyên Hải Cung Thái Dương Tinh Quân Vị Tiền.
* Hướng đặt bài vị: hướng Bắc (lạy về hướng Bắc).Sao này thuộc về hành Hỏa, xuất hiện tại hướng chánh Nam, ngày 27 mỗi tháng, vào giờ Hợi (21 giờ đến 23 giờ).

6. SAO VÂN HỚN: (Mars)
Đây là sao hung, gây đau ốm bệnh tật, kị người mạng kim. Đề phòng: kiện tụng, tranh cãi, ốm đau, bệnh dịch (không nuôi gia cầm năm đó), hỏa hoạn.
* Thời gian: nặng nhất là tháng 2 và tháng 8 (âm lịch).
* Giải hạn: cúng ngày 29 âm lịch, thắp 15 nén nhang tượng trưng cho 15 ngọn đèn. 
Lễ vật: Gồm có hương đăng hoa quả với 10 ngọn đèn cắm theo các vị trí ngôi sao trong hình. Đặt bàn lễ lạy về hướng Nam .
Vân Hớn
Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Minh Ly Cung Đại Thánh Hỏa Đức Vân Hớn Tinh Quân Vị Tiền.
* Bài vị: lấy giấy màu đỏ viết Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân 南方丙丁火德星君.
* Hướng đặt bài vị: hướng Nam (lạy về hướng Nam). Sao này thuộc về hành Hỏa, mỗi tháng xuất hiện ở hướng chánh Nam vào giờ Tuất, ngày 29 âm lịch (21 giờ đến 23 giờ).

7. SAO KẾ ĐÔ:(Neptune)
Đây là sao hung, chủ về tranh chấp, cãi cọ, bệnh tật, tang tóc. Hạn gặp Kế Đô nam hay nữ, có thể gặp những chuyện buồn thương trong tháng 3 và tháng 9 Âm Lịch. Sao Kế Đô này là hung tinh. Đàn ông làm ăn bình thường, đi xa có tài lợi. Đàn bà hay xảy ra việc rày rà, sanh tiếng thị phi. Kỵ tháng 3, tháng 9, hoặc có việc ai bi.(Đại kỵ cho nữ giới, nhất là tháng 3 và tháng 9).

* Đề phòng: kiện cáo, tranh cãi, ốm đau, mất của. 
* Thời gian: nặng nhất là tháng 3 và tháng 9 (âm lịch).
* Giải hạn: cúng ngày 18 âm lịch, thắp 20 nén nhang tượng trưng cho 20 ngọn đèn.
* Bài vị: 
Giấy màu trắng. Viết tên Địa cung Thần Vỉ Kế Đô tinh quân 地宮神尾計都星君
Lễ vật: Hương đăng, trà, quả với 21 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình. Bàn lễ lạy đặt về hướng Tây.
Kế Đô
Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Bắc Vĩ Cung Đại Thánh Thần Vĩ Kế Đô Tinh Quân Vị Tiền. 
* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây). Sao này thuộc hành Kim, xuất hiện mỗi tháng hướng chính Tây vào ngày 18 âm lịch, giờ Dậu (17g-19g).


8. SAO THÁI ÂM (Moon): 
Hạn gặp Thái Âm nam hay nữ, tháng 9 Âm Lịch sẽ gặp điều cát tường, nhưng tháng 11 Âm Lịch lại là tháng không tốt lắm. Sao Thái Âm này là kiết tinh (sao tốt). Đàn ông làm việc chi cũng đặng vừa ý, cầu danh tốt, cầu tài có tài lợi. Đàn bà hay đau máu chút ít, tháng 9 làm ăn phát tài, tháng 11 kỵ. Kỵ đàn bà sanh đẻ.
* Thời gian cúng sao: ngày 26 âm lịch, thắp 7 nén nhang tượng trưng cho 7 ngọn đèn.
* Bài vị: Dùng giấy màu trắng. Viết tên Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân 月宮太陰皇后星君Lễ vật: Hương đăng, trà, quả với 7 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình. Bàn lễ lạy đặt về hướng Tây.
Thái Âm
Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Kết Lâm Cung Đại Thánh Đô Diệu Nguyệt Phủ Thái Âm Tinh Quân Vị Tiền.
* Hướng đặt bài vị: hướng Tây (lạy về hướng Tây). Sao này thuộc về hành Kim. Nam nữ chịu ảnh hưởng tín ngưỡng lễ bái nên biết. Sao xuất hiện hướng chánh Tây, vào ngày 26 âm lịch mỗi tháng, hồi giờ Hợi (21g - 23 giờ).

9. SAO MỘC ĐỨC: (Jupiter)
Sao Mộc Đức là cát tinh, mọi sự như ý, hôn sự cát tường. Hạn gặp Mộc Đức nam hay nữ, tháng Chạp là tháng tốt nhất trong năm. Sao Mộc Đức kị người mạng Thổ. Sao Mộc Đức này là kiết tinh (sao tốt). Đàn ông hay bị đau con mắt, cưới gả tốt, ăn nói bình an, có tài lợi. Đàn bà hay đau máu chút ít, tháng chạp làm ăn phát tài lợi khá. 
* Thời gian cúng sao: ngày 25 âm lịch, thắp 20 nén nhang tượng trưng cho 20 ngọn đèn.
* Bài vị: lấy giấy màu xanh v
iết tên Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân 東方甲乙木德星君Lễ vật: Hương đăng, trà, quả với 20 ngọn đèn đặt theo các vị trí ngôi sao như hình. Bàn lễ đặt về hướng chánh Đông. 
* Cách khấn: Cung thỉnh thiên đình Thanh Văn Cung Đại Thánh Trung Quang Triều Nguyên Mộc Tinh Quân Vị Tiền.
Mộc Đức
* Hướng đặt bài vị: hướng Đông (lạy về hướng Đông). Sao này thuộc về hành Mộc, xuất hiện tại hướng chánh Đông vào ngày 25 âm lịch mỗi tháng, hồi giờ Tý (23 giờ - 01 giờ).



Bảng tính sao Cửu Diệu Tinh Quân cho nam và nữ

Còn về hạn mỗi người hàng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem theo bảng trên, còn về tính chất:

      1- Huỳnh Tiền (Đại hạn): bệnh nặng, hao tài.

      2- Tam Kheo (Tiểu hạn): tay chân nhức mỏi.

      3- Ngũ Mộ (Tiểu hạn): hao tiền tốn của.

      4- Thiên Tinh (Xấu): bị thưa kiện, thị phi.
 
      5- Tán Tận (Đại hạn): tật bệnh, hao tài.

      6- Thiên La (Xấu): bị phá phách không yên.

      7- Địa Võng (Xấu): tai tiếng, coi chừng tù tội.

      8- Diêm Vương (Xấu): người xa mang tin buồn.

    Ngày xưa có Khổng Minh Gia Cát Lượng thường lập đàn cúng sao để tự giải hạn, từ đó mọi người theo cách của Khổng Minh, hàng năm xem Sao Hạn mà cúng lễ cầu an (hội sao hàng năm vào mùng 8 tháng giêng âm lịch).

  Nhìn bảng sao Cửu Diệu chúng ta thấy nam giới có hai năm tuổi găp sao Thái Tuế củng chiếu, là năm 37 và 49 trùng với sao La Hầu và Thái Bạch là nặng, còn nữ vào tuổi 37 với sao Kế Đô. Những năm khác nam có La Hầu, nữ gặp Kế Đô cũng không đáng lo vì không có sao Thái Tuế củng chiếu.


Bài vị dùng khấn theo các sao 



Mẫu văn khấn cúng giải Sao hạn như sau:
Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba lạy rồi đọc :
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)
- Con kính lạy chín phương trời,mười phương Chư phật,Chư Phật mười phương.
- Nam mô Hiệu thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.
- Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.
- Con kính lạy Đức Hữu Bắc Dẩu cửa hàm giải Ách tinh quân.
- Con kính lạy Đức Địa cung thần Vỹ Kế Đô Tinh quân.
- Kính lạy Đức Thượng Thanh Bản Mệnh Nguyên Thần Châu quân
Tín chủ con là……………… Hôm nay là ngày....... tháng........ năm ..................... tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương thiết lập linh án tại (địa chỉ)…………………….để làm lễ giải hạn saoKế Đô chiếu mệnh:
Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho chúng con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.
Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.
Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)


Tham Khảo Công Thức tính Cửu Diệu của Việt Nam:

Sau khi cộng quy số tuổi Mụ của mình lại (Cộng Quy tức lấy các con chữ số của tuổi cộng lại với nhau đến khi thu được 1 số duy nhất.) Ví Dụ: 19 tuổi Mụ thì lấy 1 + 9 = 10 rồi lấy tiếp 1 + 0 = 1 lấy giá trị là 1 rồi tra thứ tự sau:

1.- Bảng Kê Sao Đối Với Nam Giới
số tuổi cộng lại ? Thuộc Sao gì ?
1 La Hầu
2 Thổ Tú
3 Thủy Diệu
4 Thái Bạch
5 Thái Dương
6 Vân Hớn
7 Kế Đô
8 Thái Âm
9 Mộc Đức

2.- Bảng Kê Sao Đối Với Nữ Giới
số tuổi cộng lại ? Thuộc Sao gì ?
1 Kế Đô
2 Vân Hớn
3 Mộc Đức
4 Thái Âm
5 Thổ Tú
6 La Hầu
7 Thái Dương
8 Thái Bạch
9 Thủy Diệu

DNStyle

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

10 công trình 'bát quái' nổi tiếng Việt Nam

Khám Chí Hòa là một nhà tù tại số 1 đường Hòa Hưng Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, được người Pháp cho xây dựng từ năm 1943. Kiến trúc của Khám Chí Hòa rất đặc biệt, do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái. Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H. Tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch. Cũng có ý kiến cho rằng kiến trúc này dựa trên Bát trận đồ của Khổng Minh.
Chùa Láng (Chiêu Thiền tự) là ngôi chùa có từ thời Lý, được xây ở làng Láng, nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Điểm nhấn về nghệ thuật kiến trúc phong thủy của chùa là nhà bát giác ở giữa sân chùa, với mái chồng, 2 tầng, 16 mái với những đầu đao cong vút, uốn lượn rất thanh thoát. Đỉnh nóc được đắp họa tiết 4 con phượng đang múa uyển chuyển. Tầng mái bên trên đắp 8 con rồng cuộn tượng trưng cho sự tồn tại của 8 triều vua nhà Lý. Ảnh: Phạm Ngọc Quyết.
Hồ Con Rùa là tên gọi dân gian của một vòng xoay giao thông có đài phun nước, ở trung tâm TP HCM. Công trình được xây dựng vào cuối thập niên 1960, đầu 1970 với một hồ phun nước hình bát giác lớn, có 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim. Theo các giai thoại, hồ Con Rùa là một công trình trấn yểm long mạch Sài Gòn của chính quyền Sài Gòn trước 1975. Ảnh: Hoàng Trần Nghị.
Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ và Cố đô Huế. Tháp bảy tầng, hình bát giác, cao 21m, xây dựng ở phía trước chùa. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng. Đây là ngọn tháp được coi là tháp bát giác cổ cao nhất ở Việt Nam. Ảnh: Flickr.
Trong công viên Phan Thiết có một công trình kiến trúc độc đáo, đó là Tháp nước Phan Thiết - biểu tượng của thành phố biển Phan Thiết. Tháp được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào năm 1934, do Hoàng thân Souphanouvong (1909-1995) của Lào, khi đó là Kiến trúc sư trưởng Khu Công chánh Nha Trang, thiết kế. Tháp cao 32 m, hình trụ bát giác gồm phần lầu đài và phần chân. Ảnh: Lê Duy Khang.
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TPHCM, ban đầu là Bảo tàng Blanchard de la Brosse được xây dựng trong trong một khu vườn rộng lớn (sau này là Thảo Cầm Viên Sài Gòn) vào cuối thập niên 1920. Phần giữa công trình có một khối bát giác gợi nhớ quan niệm về bát quái Kinh Dịch với 2 nóc mái lợp ngói ống, có gắn vật trang trí hình phụng, hình rồng cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Ảnh: Rongcoithit.
Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất) được xây dựng lại từ năm 1962 theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đoạt giải Khôi nguyên La Mã (Grand Prix de Rome). Bênh cạnh các khu nhà bề thế và vuông vức, ở góc trái Dinh còn có một nhà bát giác nhỏ nhắn và thanh thoát với mái ngói cong cổ kính, được xây làm nơi hóng mát, thư giãn. Ảnh: Ngọc Viên.
Nhà kèn ở Hà Nội được người Pháp xây dựng vào đầu thế kỷ 20 tại vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ) cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm để làm nơi diễn tập thổi kèn. Đây là công trình có hình bát giác với vườn hoa bao quanh tạo ra khung cảnh thoáng đãng, thanh bình. Ảnh: Poorest Hanoian.
Nhà kèn tại Hải Phòng là công trình kiến trúc do người Pháp xây dựng cùng thời điểm xây dựng với Nhà kèn Hà Nội để làm nơi binh lính tập chơi kèn vào chiều thứ bảy, sáng chủ nhật hàng tuần. Cả nhà kèn ở Hà Nội và Hải Phòng đều được thiết kế để âm thanh vang rất to dù không hề có tường bao. Bí quyết nằm ở thiết kế trần nhà. Ảnh: Quang Dần.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070 ở phía Nam kinh thành Thăng Long, ngày nay là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội. Trong vườn cây phía bên trái của khu di tích là một lầu bát giác có kiến trúc rất đẹp. Ảnh: Đăng Định.
Theo KIẾN THỨC

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Tín ngưỡng dân gian với việc thờ Thần

Trong đời sống tâm linh người Việt thì tháng Chạp và tháng Giêng là những tháng tập trung nhiều ngày Lễ, Hội. Việc này hình thành, tồn tại từ lâu đời và mấy năm gần đây càng rộ nở bởi nó có cội nguồn từ vấn đề “tín ngưỡng” và “tôn giáo”. Tế, Lễ, Thờ, Cúng là những vấn đề nhậy cảm và không ít người tuy tham gia, đôi khi khá tích cực nhưng đâu đã hiểu hết cội nguồn, ý nghĩa của nó.

1. Trước hết về ngữ nghĩa:

Theo đa số các Từ điển thì:

Đạo (H: 道,宗敎, A: The absolute principle - The religion, P: Le principle absolu - La religion) hay Đạo lý có nhiều cách giải thích với mỗi tôn giáo khác nhau. Nhưng chung quy lại đó là một cái lẽ nhất định ai cũng phải noi đấy mà theo. Như “nhân đạo chủ nghĩa” 人道主義 cái chủ nghĩa về đạo người , “Vương đạo” 王道 đạo lý của vương giả, “bá đạo” 霸道 đạo lý của bá giả, các nhà tôn giáo đem các lẽ hay trong tôn giáo mình nói cho người biết mà theo gọi là “truyền đạo” 傳道.


Tín ngưỡng (H: 信仰, A: The religious belief, P: La croyance religieuse) là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đều mang những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp. Đó là: Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên nên sùng bái tự nhiên; Hài hòa âm dương: thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời-Đất, Tiên-Rồng, ông đồng-bà đồng,...; Đề cao phụ nữ: thể hiện ở rất nhiều nữ thần như các Mẫu Tam phủ ( Trời-Đất-Nước), Mẫu Tứ phủ (Mây-Mưa-Sấm-Chớp),...; Tính tổng hợp và linh hoạt và hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải độc thần như trong nhiều tôn giáo khác.

Tôn giáo (H: 宗敎, A: The religion, P: La religion) là một tổ chức lo việc tu hành, dạy con người làm điều lành, lánh điều dữ, hiền hòa để trở thành bậc cao thượng. Một tôn giáo cần phải có khởi xướng, gọi là Giáo chủ; có hệ thống giáo lý bao gồm tín ngưỡng và tín điều; được tổ chức thành giáo hội để truyền bá giáo lý và có một khuôn mẫu lễ nghi thờ phượng và tế tự.

Tín đồ (H: 信徒, A: Adept, disciple, P: Adepte, disciple) là người tin theo một tôn giáo và gia nhập vào tôn giáo ấy. Trong đó có Thiện nam Tín nữ (H: 善男信女, A: The believers, P: Les croyants) chỉ những nam giới, phụ nữ có tín ngưỡng tôn giáo, tức là nam, nữ tín đồ của một tôn giáo.
Trên thực tế tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Tuy cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng đều là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên”, đối lập với cái “trần tục” mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Song thực ra tín ngưỡng thì mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn và không tổ chức hặt chẽ như tôn giáo. Chỉ khi phát triển đến một mức độ nào đó thì tín ngưỡng có thể thành tôn giáo.

Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử Việt Nam ta có những tôn giáo ngoại nhập và cả những tôn giáo bản địa. Tôn giáo ngoại nhập đông tín đồ là: Đạo Lão, Đạo giáo (H: 道教,老教, A: Taoism, P: Taoisme), Đạo Khổng, Nho giáo (H: 儒教, 儒教, A: Confucianism, P: Confucianisme), Đạo Phật, Phật giáo (zh. 佛教, sa. buddhaśāsana, pi. buddhasāsāna, bo. sangs rgyas bstan pa སངས་རྒྱས་བསྟན་པ་, A: Buddhism, P: Bouddhisme), Đạo Thiên Chúa (còn gọi là Công giáo, Ki-tô giáo hoặc Cơ Đốc giáo (H: 天主敎, 公敎, A: The Christianism (Catholicism), P: Le Christianisme (Catholicisme), Đạo Tin Lành (H: 新教, A: Protestantism, P: Protestantisme). Còn tôn giáo bản địa có: Đạo Cao Đài (H: 高臺大道, A: The Great Way of Caodaism, P: La Grande Voie du Caodaisme), Đạo Phật Hòa Hảo 和好教.
Trong tín ngưỡng dân gian thì việc thờ Thần (H: 神靈, A: The spirits, P: Les esprits, các Đấng thiêng liêng trong thế giới vô hình) và thờ cúng Tổ tiên (H: 祖宗, A: The ancestors, P: Les ancêtres) của người Việt gần như được nâng lên thành tôn giáo và rất được người Việt chăm lo, cẩn trọng. Vấn đề Thờ cúng Tổ tiên còn được gọi là “Đạo Ông Bà” thì ai cũng rõ và đã từng được phổ biến nhiều trên sách báo và cả trang này nhưng còn việc thờ Thần thì chưa được tìm hiểu thấu đáo và phổ biến nhiều.

2. Thờ Thần trong tín ngưỡng dân gian của người Việt:

Thờ Thần 神 là tín ngưỡng như là một “đạo thuần Việt”, khởi nguồn từ người Việt cổ và luôn đồng hành cùng dân tộc.
Từ thủa sơ khai, người Việt tin là có thần linh ở khắp mọi nơi, mọi chốn và họ thờ phụng tất cả các sức mạnh ấy. Do vậy mới có Thần Núi, Thần Sông, Thần Đất, Thần Bếp…Đạo thờ Thần không có giáo chủ, không có giáo điều cũng tương tự như đạo thờ cúng tổ tiên về ngôi vị thờ và nghi lễ cúng bái. Một số vị thần linh trong nhà, trong làng và các vị thần chung mà người Việt thờ cúng:

2.1. Thổ Công:

Táo quân (H: 灶君 - 灶王, A: The genii of kitchen, P: Les génies du foyer) là vua bếp, tức là vị Thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà.
Thổ Công-Thổ Địa-Thổ Kỳ (H: 土公 - 土地 - 土祇, A: The Genii of the home, P: Les Génies de la maison) là ba vị thần được thờ trong gia đình, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi nhà cửa, định đoạt họa phúc cho một gia đình. Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Một số giả thuyết cho rằng Thổ Công là một trong ba vị Táo Quân xuất hiện trong truyện sự tích Táo Quân (hay Sự tích ba ông đầu rau). Người chồng mới là Thổ Công (trông coi việc bếp núc, còn gọi là “vua bếp”), người chồng cũ là Thổ Địa (trông coi việc nhà cửa), người vợ là Thổ Kỳ (trông coi việc mua bán). Tuy nhiên, một số người cho rằng Thổ Công là vị thần cai quản vùng đất còn Táo Quân chỉ coi việc bếp núc trong nhà
Thổ Công được nhiều người tin là vị thần quan trọng nhất trong gia đình, nhằm tránh hồn ma quỷ xâm nhập quấy nhiễu gia chủ. Tổ tiên có công sinh thành dưỡng dục nên được tôn vinh nhất. Bàn thờ tổ tiên ở giữa, vị trí quan trọng nhất, bàn thờ Thổ Công ở bên trái, quan trọng thứ hai. Bàn thờ Thổ Công gồm một hương án kê sát tường. Trên hương án có một mâm nhỏ, ba đài rượu có nắp đậy; phía trước là bình hương hoặc đỉnh trầm; hai bên bình hương là đôi nến; đằng sau là bài vị Thổ công. Bài vị có thể là một cái mũ (có thể là 3 cỗ mũ – mũ có cánh chuồn dán trên một bộ áo và đôi hia), ghi đủ danh vị 3 ngài là: “Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân, Thổ địa Long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ Phúc đức chính thần” hay ghi gọn là 定福灶君”Định phúc Táo quân”. Hai bên bài vị có đôi câu đối 有德能司火, 無私可達天 “Hữu Đức năng ti Hỏa, Vô tư khả đạt Thiên”. Ở Nam bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất (đất phải về với đất), nhiều nơi còn gọi Ông Địa là Thần Tài (mọi thứ đều từ đất mà ra).
Người Việt cúng Thổ công vào những ngày giỗ tết, sóc, vọng. Lễ cúng tùy theo gia chủ. Có thể là chay hay mặn và khấn đủ danh vị 3 ngài nói nôm na là Ba vị Táo. Khi cúng lễ tổ tiên, người ta đều phải khấn Thổ Công trước để xin phép cho tổ tiên về.
Những gia đình không lập bàn thờ riêng thì ngày 23 Chạp có cúng. Có thể đủ 3 bộ hay chỉ 1 bộ của Thổ công. Mầu mũ hia thay đổi từng năm: năm hành Kim (Canh, Tân) mầu vàng; Mộc (Giáp, Ất) mầu trắng; Thủy (Nhâm, Quý) mầu xanh; Hỏa (Bính, Đinh) mầu đỏ, Thổ (Mậu, Kỷ) mầu đen. Nhưng thực tế, ngày nay đồ vàng mã ngày càng nặng về lòe loẹt, mấy ai chú ý đến mầu phù hợp cho từng năm! Khi cúng xong hóa kèm cả cá vàng.

2.Thần tài

Thần tài (H: 神財, A: The Genius of fortune , P: Le Génie de fortune) là vị thần mang tài lộc đến cho gia đình và bàn thờ thường được thiết lập ở nơi xó xỉnh góc nhà hàng hiên. Tục thờ Thần tài được người Tàu truyền cho dân ta, với nhiều sự tích nhưng dân gian thường nhắc hai sự tích: một cô gái tên là: Như Nguyện ở hồ Thanh Thảo; là ông Triệu Công Minh ở núi Võ Đang. Khi thờ Thần tài, người Việt sáp nhập Thần tài vào các Thần bản gia như: Thổ địa, Ông Địa, Ông Táo.

Nơi thờ Thần tài là một chiếc khám nhỏ có dán bài vị bằng giấy hay kính đỏ, chữ nhũ vàng có đề các chữ sau:
- Bên trên vẽ một cái cổng mà hai trụ có rồng quấn, trên cổng có chữ: 聚寶堂 “TỤ BẢO ĐƯỜNG”, nghĩa là ngôi nhà có tụ lại những thứ quí báu, phía dưới có vẽ một cái TỤ BẢO BỒN là cái chậu huyền diệu chứa của báu.
-Hai hàng chữ lớn ở chính giữa là danh hiệu của các Thần bản gia thờ: 五方五土龍神 (Ngũ Phương ngũ Thổ Long thần, tức: Hoàng đế ở Trung ương, Bạch đế ở hướng Tây, Hắc đế ở hướng Bắc, Thanh đế ở hướng Đông, Xích đế ở hướng Nam, Thổ Công chủ nền nhà, Thổ Thần chủ khu đất, Thổ Địa trực ở cổng để tiếp dẫn Thần Tài vào nhà, Thổ Phủ bảo hộ các kho hàng và Thổ Kỳ cai quản mặt đất nói chung); 前後地主財神 (Tiền hậu địa chủ Tài thần, tức Thần tài chủ đất trước kia và Thần tài chủ đất hiện nay); quanh hai dòng này là các chữ 招財 ( Chiêu tài: mời gọi tiền của), 進寶 (Tiến bảo: dâng hiến bảo vật), 如意吉祥 (Như ý cát tường: tốt lành như mong muốn), 一帆風順 (Nhất phàm phong thuận: thuận buồm xuôi gió), 四季平安 (Tứ quí bình an: bốn mùa bình an).

- Hai bên khám có đôi câu đối: 土能生白玉 (Thổ năng sinh Bạch ngọc, Đất thường sanh ngọc trắng) 地可出黃金 ( (Địa khả xuất Hoàng kim, Đất khá xuất vàng ròng). Ngoài bài vị Thần Tài còn có: tượng Ông Địa và tượng Ông Thần Tài. Trong khám còn có đèn nến, ly nước, ly rượu, mâm bồng đặt hoa quả bánh kẹo. Việc cúng Thần tài thực hiện quanh năm, đặc biệt những ngày giỗ, tết, sóc, vọng, mỗi dịp xuất vốn làm ăn buôn bán. Khi đó gia chủ thắp hương, khấn vái cầu xin Thần tài cho mua may bán đắt, trúng mối lời nhiều, đem lại nhiều tiền bạc sung túc.

2.3.Tiên sư, Thánh sư hay Nghệ sư
Là thờ người có công lớn đối với một nghề nào đó hoặc giúp phát triển hoặc sáng tạo ra nghề đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập. Đây chính là đạo “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Bàn thờ này được đặt ở bên cạnh bàn thờ Gia tiên, phía bên kia là bàn thờ Thổ công. Bài vị của Thánh sư có thể là một bức ảnh của vị Thánh sư.
Ngoài những ngày giỗ tế, người ta cúng Thánh sư vào kỵ nhật của Thánh sư; để nhớ ngày qua đời của ông tổ nghề của mình.

2.4.Tiền chủ
Là việc thờ chủ cũ 前主 của ngôi nhà để cầu mong vong hồn họ khỏi về quấy rối. Bàn thờ là cây hương đặt ngoài sân, không có bài vị. Cúng vào ngày 01, rằm với hương hoa quả. Khi khấn chỉ cần “Bản gia tiền chủ”.

2.5. Thờ Quan Công, Thần Hổ, Sơn thần, Mộc tinh:
Nếu thờ Thần Hổ có thể thờ Bạch Hổ hay Ngũ Hổ và khi cúng phải có thịt sống hoặc trứng sống. Khi còn ở quê tôi thấy nhà Cậu Cả, anh trai Mẹ tôi có thờ thần Hổ.

2.6.Thành hoàng làng:
Thành hoàng Thần (H: 城隍神, A: The tutelary spirit of a city, P: Le génie tutélaire d"un cité) là vị Thần có trách nhiệm ủng hộ (về phương diện thiêng liêng) dân chúng sống trong một cái thành, trong một thị trấn, hay trong một vùng dân cư. Nếu Thành hoàng ủng hộ dân chúng trong một làng, một xã thì gọi là Thần hoàng bổn cảnh (H: 神隍本境, A: The tutelary Genius of a village, P: Le Génie tutélaire d"un village) tương tự như việc thờ tổ tiên và Thổ Công trong mỗi gia đình.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng, xã đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không “hay ho” gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp... nhưng họ chết vào “giờ thiêng”. Những vị này được triều đình xem xét, Vua (đứng vào hàng Thánh nên có quyền phong Thần cho các bề tôi có công lớn) ban sắc chỉ cho làm Thành hoàng trong địa phương đó, để phù hộ dân chúng trong làng ấy và hưởng được cúng tế của dân làng. Việc phong Thần nầy phù hợp lòng dân, vừa thúc đẩy nhân tài ra giúp nước, lập công với triều đình.

2.7. Tứ bất tử:
Tứ bất tử (H: 四不死, A: The four immortals, P: Les quatre immortels) là Bốn vị thánh bất tử mà tiếng tăm tốt vẫn lưu truyền mãi mãi trong cõi nhân gian từ đời nầy qua đời khác, gồm: Tản Viên (biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội), Thánh Gióng (biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm), Chử Đồng Tử (biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất) và Liễu Hạnh (biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần). Nhưng có ý cho rằng đó là bốn bậc không bao giờ chết, là: Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Như vậy, tuy không có giáo chủ, giáo lý, giáo hội nhưng tín ngưỡng dân gian hình thành và tồn tại cùng dân tộc, nó có sức mạnh lớn lao. Trong đó việc thờ Thổ Công và Thờ cúng Tổ tiên là phổ cập nhất. Đây là những tập tục gần như trở thành tôn giáo của người Việt. Mặc dù theo hay không theo một tôn giáo nào nhưng mọi gia đình Việt đều quan tâm và trân trọng việc thờ cúng này. Trong điều kiện hiện đại, tuy có những biến đổi mới nhưng những gì tốt đẹp, chắt lọc qua bao đời vẫn chứng tỏ được sức trường tồn của nó. Những cán bộ (như anh em tôi chẳng hạn) tự ghi trong lý lịch là không theo tôn giáo nào nhưng ai mà không nhớ ngày giỗ của Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, ai mà không cúng Ông Táo Ông Công ngày 23 tháng Chạp tới, ai chưa từng vãng cảnh Đền, Phủ, Miếu?

Đáng buồn là việc thờ Thần ngày nay có xu hướng “thương mại hóa” và tốn kém không ít tiền của, đâu còn nét nguyên sơ đầy tính nhân văn vốn có.

Lương Đức Mến