Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Phần 2: Cách an 10 thần của Tứ trụ .


  
Trong mỗi tứ trụ, can ngày được gọi là Nhật Can, nó đại diện cho người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là ngôi nhà của người có tứ trụ đó). Hành của can ngày được gọi là hành của Thân (Thân còn được gọi là Nhật Chủ) của người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là thân thể của người có tứ trụ đó)

  I – Nhật Can và Thân 

Trong mỗi tứ trụ, can ngày được gọi là Nhật Can, nó đại diện cho người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là ngôi nhà của người có tứ trụ đó). Hành của can ngày được gọi là hành của Thân (Thân còn được gọi là Nhật Chủ) của người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là thân thể của người có tứ trụ đó). Qua đó chúng ta có thể so sánh hành của Thân với 4 hành còn lại (sau khi đã xét khả năng tác động giữa các can chi trong tứ trụ với nhau) để xem hành của Thân là mạnh hay yếu (thường được gọi là Thân vượng hay nhược). Đây là một khâu vô cùng quan trọng cho việc dự đoán vận mệnh của con người.

II - Mười thần của tứ trụ 

1 - Mười thần 
Nhật Chủ chính là tôi, bản thân tôi, hành của Thân chính là hành của tôi, cho nên quan hệ của nó với các hành khác như sau :
a - Cái sinh ra tôi chính là mẹ, mẹ kế người ta gọi là: Chính ấn (1), thiên ấn (2).
b - Cái tôi sinh ra là con cái, người ta gọi là : Thực thần (3), thương quan (4) .
c - Cái khắc tôi tức là tôi bị khống chế, người ta gọi là : Chính quan (5), thiên quan (6) đều là sếp, cấp trên của tôi.
d - Cái tôi khắc là cái bị tôi khống chế, người ta gọi là : Chính tài là tiền hay là vợ của tôi (7), thiên tài là tiền hay là cha của tôi (8).
e - Cái ngang tôi là anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, người ta gọi là : Ngang vai, thường gọi tắt là tỷ (9) và kiếp tài, gọi tắt là kiếp (10).
Đó chính là mười thần có liên quan với tôi trong tứ trụ.

Ví dụ : Nếu Tứ Trụ của tôi có can ngày (tức Nhật Can) là Tân mà Tân mang hành Kim thì Thân của tôi là hành Kim, vì vậy ta có :
Mậu (Thổ) sinh cho Tân (tôi) được gọi là chính ấn (vì can dương sinh cho can âm nên gọi là chính), thường được gọi là Ấn. Kỷ (Thổ) sinh cho Tân được gọi là thiên ấn (vì can âm sinh cho can âm nên gọi là thiên), thường được gọi là Kiêu.
Tân sinh cho Nhâm (Thủy), vì vậy Nhâm được gọi là Thương Quan và sinh cho Quý (Thủy), vì vậy Quý được gọi là Thực Thần.
Bính (Hỏa) khắc Tân, vì vậy Bính được gọi là chính quan, thường được gọi là Quan, Đinh (Hỏa) khắc Tân, vì vậy Đinh được gọi là thiên quan, thường được gọi là Sát.
Tân khắc Giáp (Mộc), vì vậy Giáp được gọi là Chính Tài, Tân khắc Ất (Mộc), vì vậy Ất được gọi là Thiên Tài.
Tân gặp can Tân được gọi là ngang vai, thường được gọi là Tỷ, Tân gặp Canh thường được gọi là Kiếp.
Cách để xác định mười thần của Nhật Chủ trong các Tứ Trụ khác cũng tương tự như vậy.

2 – Tương sinh của 10 thần 

Ví dụ: Một tứ trụ có Nhật Can (can ngày) là Tân (hay Canh) vì Tân mang hành Kim nên Thân của người này mang hành Kim, thì ta có sơ đồ tương sinh của mười thần như sau:
Description: Posted Image

Qua sơ đồ ta thấy sự tương sinh của 10 thần hoàn toàn giống như sự tương sinh của ngũ hành.

3 – Tương khắc của 10 thần 
Mười thần là tài, quan, ấn, thực, thương….. của các can lộ hay tàng trong các địa chi trong tứ trụ. Mối quan hệ sinh khắc giữa chúng chính là mối quan hệ sinh khắc của ngũ hành. Mười thần nghiêng về phân tích người và sự việc, còn ngũ hành nghiêng về phân tích mức độ khí chất bẩm sinh của con người. Cả hai cái bổ xung cho nhau, không được xem nhẹ bên nào.

Ví dụ : Giả sử hành của chính quan của 1 tứ trụ là Mộc, chính quan đại diện cho chức vụ, quyền lực, thi cử,…. , vì vậy khi nó bị hành của thương quan là Kim khắc quá mạnh dễ bị mất chức, mất quyền, thi trượt,…… . Còn theo ngũ hành thì Mộc đại diện cho đầu, mặt, vai, tay, chân, gan, mật, thần kinh,… khi bị Kim khắc quá mạnh thì những bộ phận này dễ bị tổn thương. Trong trường hợp Mộc (hay chính quan) không bị khắc nhưng nếu có quá nhiều Mộc trong tứ trụ thì khi gặp tuế vận (đại vận và lưu niên) có nhiều Mộc hay có nhiều các hóa cục Mộc thì người đó cũng dễ bị các tai họa như vậy.

Nếu Tân (hay Canh) là Nhật Can thì ta có sơ đồ tương khắc của 10 thần của nó như sau : 
Description: Posted Image

Qua sơ đồ trên ta nhận thấy sự tương khắc của mười thần hoàn toàn tương tự như sự tương khắc của ngũ hành (tương khắc cách 1 ngôi).

Khi xét các thần trong tứ trụ và giữa tứ trụ với tuế vận ta phải căn cứ vào sự vượng suy của các thần (tức hành của nó), nếu thần nào quá vượng thì cần được xì hơi là tốt (tức là nó cần được sinh cho các thần khác), còn ngược lại nếu sinh hay giúp đỡ thêm cho nó thì dễ có tai họa. Tương tự nếu thần nào quá yếu thì nó cần được sinh hay được phù trợ cho vượng lên và dĩ nhiên nó rất sợ bị khắc. Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể biết thần đó là mạnh hay yếu? Muốn biết, chúng ta phải dựa vào bảng sinh vượng tử tuyệt để xem nó có vượng hay nhược ở tuế vận, cũng như xem nó có xuất hiện nhiều hay ít ở trong tứ trụ và ở tuế vận (bởi vì nếu thần đó là nhược nhưng có nhiều thì nó cũng có thể trở thành mạnh). 

4- Sự sắp xếp tàng can trong 12 địa chi:

Trong thế giới thực tại, tuy con người được tạo ra bởi sự giao hoa của trời đất nhưng thực tế con người sống gần gũi với đất hơn là với trời. Điều này được thể hiện rõ qua việc can tàng ẩn trong địa chi, nó thể hiện sự gần gũi của con người và đất.Địa chi ôm ấp can tàng <=> Sự tổ hợp của can tàng tạo ra địa, đây là mệnh đề mang tính chất tương đương 2 chiều.
Vì vậy nắm bắt rõ sự sắp xếp can tàng ẩn trong địa chi sẽ góp phần giúp ta hiểu chính xác hơn về lá số và có những luận giải đúng đắn.

* TÝ: QUÝ
* SỬU: KỶ - TÂN - QUÝ
* DẦN: GIÁP - BÍNH - MẬU
* MÃO: ẤT
* THÌN: MẬU - QUÝ - ẤT
* TỴ: BÍNH - MẬU - CANH
* NGỌ: ĐINH - KỶ
* MÙI: KỲ - ẤT - ĐINH
* THÂN: CANH - NHÂM - MẬU
* DẬU: TÂN
* TUẤT: MẬU - ĐINH - TÂN
* HỢI: NHÂM - GIÁP

Ví dụ : An thập thần  lá số tứ trụ , nữ mệnh sinh 20/4/1990, 4h30 sáng


  Quan                   Quan             Thân                   Tài  
  Canh                   Canh                Ất                    Mậu
   Ngọ                    Thìn               Mão                   Dần
Đinh, Kỷ           Mậu, Quý, Ất        Ất            Giáp, Bính, Mậu

5 - Tính chất của mười thần .
Mười thần trong tứ trụ đại diện cho công năng, chức vụ, quyền lực, tình cảm, tính cách, nghề nghiệp,…..như sau:

1 - Chính quan là cái khắc tôi, đại diện cho quan chức tốt, chính trực trong chính quyền điều hành xã hội, mà con người phải tuân theo pháp luật nhà nước, nói chung chính quan được coi là cát thần, nhất là khi Thân vượng.
Công năng của chính quan trong mệnh là bảo vệ tài, áp chế Thân, khống chế tỷ và kiếp. Thân vượng tài nhược thì nên có chính quan để bảo vệ tài. Thân vượng mà ấn nhược thì chính quan sẽ sinh ấn và chế ngự Thân cho bớt vượng. Thân vượng kiếp nhiều thì chính quan sẽ khắc chế kiếp.
Trong mệnh chính quan đại diện cho chức vụ, học vị, thi cử, bầu cử, danh dự, …. . Với nam Chính quan còn đại diện cho tình cảm với con gái. Vì nam lấy tài làm vợ, tài sinh quan và sát là con, nên nam lấy quan làm con gái, sát làm con trai (vì âm, dương khác với nhật can là con gái, giống là con trai).
Tâm tính của chính quan : chính trực, có tinh thần trách nhiệm, đoan trang nghiêm túc, làm việc có đầu có đuôi. Nhưng dễ bảo thủ cứng nhắc, thậm chí là người không kiên nghị.

2 - Thất sát (thiên quan) là cái khắc tôi, nó thường đại diện cho quan lại xấu trong chính quyền. Trong mệnh thất sát chuyên tấn công lại Thân, cho nên Thân dễ bị tổn thương, khi đó cần có thực thương tới để khắc chế thất sát thì lại trở thành tốt (nghĩa là bắt quan xấu phải phục vụ cho mình “thất sát hóa thành quyền bính“). Nói chung khi Thân nhược thất sát được coi là hung thần.
Công năng của thất sát làm tổn hao tài, sinh ấn, công phá Thân, khắc chế tỷ kiếp.
Trong mệnh thất sát đại diện cho chức vụ về quân cảnh, hoặc nghề tư pháp, thi cử, bầu cử … Với nam thất sát còn đại diện cho tình cảm với con trai.
Tâm tính của thất sát, hào hiệp, năng động, uy nghiêm, nhanh nhẹn ... .Nhưng dễ bị kích động, thậm chí dễ trở thành người ngang ngược, trụy lạc …

3 – Chính ấn là cái sinh ra tôi, khi Thân nhược thường được coi là cát thần, ấn có nghĩa là con dấu, đại diện cho chức vụ, quyền lợi, học hành, nghề nghiệp, học thuật, sự nghiệp, danh dự, địa vị, phúc thọ …. Chính ấn là sao thuộc về học thuật và còn đại diện cho tình cảm của mẹ đẻ.
Công năng của chính ấn, sinh Thân, xì hơi quan sát, chống lại thực thương.
Tâm tính của chính ấn, thông minh, nhân từ, không tham danh lợi, chịu đựng nhưng ít khi tiến thủ, thậm chí còn chậm chạp, trì trệ....

4 – Thiên ấn (Kiêu)là cái sinh phù tôi, đại diện cho quyền uy trong nghề nghiệp như nghệ thuật, nghệ sĩ, y học, luật sư, tôn giáo, kỹ thuật, nghề tự do, những thành tích trong dịch vụ.... Nó còn đại diện cho tình cảm của dì ghẻ.
Công năng của thiên ấn sinh Thân, xì hơi quan sát để sinh cho Thân, chống lại thực thương . Mệnh có thiên ấn có thể phù trợ cho Thân nhược. Nhưng gặp thực thần là mệnh lao dịch, vất vả. Thiên ấn quá nhiều thì đó là người phúc bạc, bất hạnh, tật bệnh hoặc con cái khó khăn khi đó chỉ có thiên tài mới có thể giải được các hạn này. Người mà tứ trụ có Thân vượng, còn có kiêu, tài và quan tất là người phú quý. Mệnh có thiên ấn lại còn gặp quan sát hỗn tạp (có cả chính quan và thiên quan, không tính Quan và Sát là tạp khí ) là người thắng lợi nhiều mà thất bại cũng lắm. Nói chung khi Thân vượng thiên ấn được coi là hung thần.
Tâm tính của thiên ấn, tinh thông tay nghề, phản ứng nhanh nhậy, nhiều tài nghệ, nhưng dễ cô độc, thiếu tính người, thậm chí ích kỷ, ghẻ lạnh...

5 – Ngang vai là ngang tôi (là can có cùng cùng hành và cùng dấu với Nhật Can), gọi tắt là tỷ. Đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, đồng nghiệp, cùng phe phái, tranh lợi, đoạt tài, khắc vợ, khắc cha ,… Nữ đại diện cho tình chị em, nam đại biểu cho tình anh em.
Công năng của ngang vai có thể giúp Thân khi Thân nhược, cũng như tài nhiều (của cải nhiều) nhờ ngang vai giúp Thân để khỏi mất của. Nhưng Thân vượng lại có ngang vai nhiều mà không bị chế ngự là tay chân cấp dưới không hòa thuận, hoặc kết hôn muộn, tính tình thô bạo, cứng nhắc, cố chấp, không hòa hợp với cộng đồng, khắc cha, khắc vợ, làm nhiều mà không gặp tiền của.
Tâm tính của ngang vai, chắc chắn, cương nghị, mạo hiểm, dũng cảm, có chí tiến thủ, nhưng dễ cô độc, ít hòa nhập, thậm chí cô lập, đơn côi. Nói chung khi thân vượng ngang vai được coi là hung thần (vì lúc đó nó tranh đoạt tài với Thân).

6 - Kiếp tài cũng là ngang tôi (là can cùng hành nhưng khác dấu với Nhật Can), gọi tắt là kiếp. Nó đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, tranh lợi đoạt tài, khắc vợ, khắc cha, lang thang.... Thân vượng mà có nhiều kiếp cũng giống như ngang vai ở trên. Nữ đại diện cho tình anh em, nam đại diện cho tình chị em....
Công năng của kiếp cũng giống như của ngang vai.
Tâm tính của kiếp tài là nhiệt tình, thẳng thắn, ý chí kiên nhẫn, phấn đấu bất khuất, nhưng dễ thiên về mù quáng, thiếu lý trí, thậm chí manh động, liều lĩnh....

7 - Thực thần là cái mà nhật can sinh ra (cùng dấu với Nhật Can). Đại diện cho phúc thọ, người béo, có lộc. Nữ đại diện cho tình cảm với con gái.
Công năng của thực thần làm xì hơi Thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm quan bị tổn thương. Khi gặp sát thì có thể chế phục làm cho Thân được yên ổn không có tai họa, nên nói chung được xem là cát thần.
Tâm tính của thực thần, ôn hòa, rộng rãi với mọi người, hiền lành, thân mật, ra vẻ tốt bề ngoài nhưng trong không thực bụng, thậm chí nhút nhát, giả tạo. Can chi đều có thực thần thì phúc lộc dồi dào, nhưng không thích hợp cho người công chức mà thích hợp với những người làm nghề tự do. Mệnh nữ có thực thần là hay khinh rẻ chồng. Thực và sát cùng một trụ là người có dịp nắm quyền bính nhưng dễ bị vất vả, lao khổ, tai ách và ít con. Can có thực thần, chi có ngang vai là chủ về người có thân thích, bạn hữu hoặc tay chân giúp đỡ. Can là thực thần, chi là kiếp tài là chủ về người phúc đức giầu có, khi gặp điều xấu vẫn có lợi. Thực thần có cả kiếp tài, thiên ấn đi kèm là người dễ đoản thọ (?). Người tài nhiều thì diễm phúc ít. Thực thần lâm trường sinh vượng địa hoặc cát thần thì phúc lộc nhiều, phần nhiều là người phúc lộc thọ toàn diện. Thực thần lâm tử, tuyệt, suy thì phúc ít, bạc mệnh. Thực thần lâm mộ địa là người dễ chết yểu (?).

8 – Thương quan cũng là cái nhật can sinh ra (nhưng khác dấu với Nhật Can). Đại diện cho bị mất chức, bỏ học, thôi việc, mất quyền, mất ngôi, không chúng tuyển, không thi đỗ, không lợi cho người nhà và chồng. Nữ đại diện cho tình cảm với con trai.
Công năng của thương quan làm xì hơi Thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm thương tổn quan. Sợ nhất là “thương quan gặp quan là họa trăm đường ập đến“. Nói chung thương quan được xem là hung thần, nhất là khi Thân nhược.
Tâm tính thông minh, hoạt bát, tài hoa dồi dào, hiếu thắng, nhưng dễ tùy tiện, thiếu sự kiềm chế ràng buộc, thậm chí tự do vô chính phủ....
Người thương quan lộ rõ (lộ và vượng) tâm tính thanh cao hiên ngang, dám chửi mắng cả quỷ thần. Nhật Can vượng thì lại càng hung hăng hơn, loại người này tính xấu. Những người bề trên cũng không dám đụng đến nó, kẻ tiểu nhân thì càng sợ mà lánh cho xa. Nhưng thương quan vượng mà Thân nhược thì tính tình vẫn là thương quan, chỉ có điều không ghê gớm đến như thế. Thương quan trong tứ trụ nếu có Thân vượng thì nó là hỷ dụng thần khi hành đến vận tài phú quý tự nhiên đến.

9 – Chính tài là cái bị Thân khắc (có dấu khác với Nhật Can) là cái nuôi sống tôi. Đại diện cho tài lộc, sản nghiệp, tài vận, tiền lương. Còn đại diện cho vợ cả (với nam).
Công năng là sinh quan và sát, xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần làm hại chính ấn. Nói chung chính tài được coi là cát thần.
Tâm tính cần cù, tiết kịêm, chắc chắn, thật thà, nhưng dễ thiên về cẩu thả, thiếu tính tiến thủ, thậm chí trở thành nhu nhược, không có tài năng....
Người Thân vượng, tài vượng là bậc phú ông trong thiên hạ, nếu có cả chính quan là phú quý song toàn, nam thì được vợ hiền nội trợ tốt. Ngược lại người Thân nhược mà tài vượng thì không những nghèo mà cầu tài rất khó khăn, trong nhà vợ nắm quyền hành. Tài nhiều thường không lợi cho đường học hành, là người dốt nát. Địa chi tàng tài là tài phong phú, tài thấu ra là người khảng khái. Tài có kho (ví dụ : nếu ất là tài thì kho là dần và mão hay tàng trong các chi Thổ) khi gặp xung tất sẽ phát tài (như tài là Ất, Mậu hay Quý tàng trong Thìn khi gặp Tuất ở tuế vận xung Thìn). Thân vượng có chính tài còn gặp thực thần là được vợ hiền giúp đỡ. Chính tài và kiếp tài cùng xuất hiện trong tứ trụ thì trong cuộc đời dễ gặp phải tiểu nhân nên tài dễ bị tổn thất.

10 – Thiên tài cũng là cái bị Thân khắc (nhưng cùng dấu với Nhật Can) cũng là cái nuôi sống tôi. Đại diện cho của riêng, trúng thưởng, phát tài nhanh, đánh bạc, tình cảm với cha. Với nam còn đại diện cho tình cảm với vợ lẽ.
Công năng của thiên tài: sinh quan sát, xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần, làm hại chính ấn. Nói chung thiên tài được coi là cát thần.
Tâm tính của thiên tài, khảng khái, trọng tình cảm, thông minh, nhậy bén, lạc quan, phóng khoáng, nhưng dễ thiên về ba hoa, bề ngoài, thiếu sự kiềm chế, thậm chí là người phù phiếm....
Thiên tài đại diện cho cha hoặc vợ lẽ, hoặc nguồn của cải bằng nghề phụ. Thân vượng, tài vượng, quan vượng thì danh lợi đều có, phú quý song toàn. Thiên tài thấu can thì kỵ nhất gặp tỷ và kiếp, vì như thế vừa khắc cha lại làm tổn hại vợ (với nam). Can chi đều có thiên tài là người xa quê lập nghiệp trở lên giầu có, tình duyên tốt đẹp, của cải nhiều. Thiên tài được lệnh (vượng ở tháng sinh) là cha con hoặc thê thiếp hòa thuận, được của nhờ cha hoặc nhờ vợ, cha và vợ đều sống lâu, vinh hiển (?). Thiên tài lâm mộc dục là người háo sắc phong lưu. Thiên tài lâm mộ địa là cha hoặc vợ dễ chết sớm (?).

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Tìm hiểu 24 tiết khí


二十四节气
24 tiết khí
按照中国农历的纪年法,每个月都有两个节气,一年共有24个节气。
Theo cách tính năm âm lịch của người Trung Quốc thì mỗi tháng có 2 tiết khí, như vậy trong 1 năm sẽ có 24 tiết khí.
节气是中国农历特有的。中国古人在长期的生产劳动中,逐渐认识到地球绕太阳运行一周的时间是固定不变的365又1/4天,他们把它叫做“一年”;又根据太阳和地球的相互关系,把一年的天数分成2 4等份,用来表示季节和气候的变化。这样,每15天就有一个节气,每个月就有两个节气了。二十四节气在公历中的日期几乎是固定的,上半年(1—6月)的节气都在每个月的6日和21日前后;下半年(7—12月)的节气都在每个月的8日和23日前后。
Tiết khí là một đặc thù của lịch âm Trung Quốc. Trong cuộc sống lao động sản xuất lâu dài, người Trung Quốc cổ đại dần dần nhận thức được rằng thời gian để trái đất quay một vòng quanh mặt trời là 365 ngày 1/4. Người ta gọi số ngày này là 1 năm; lại căn cứ vào mối quan hệ qua lại giữa mặt trời và trái đất để chia số ngày trong 1 năm thành 24 phần bằng nhau để biểu thị sự thay đổi về mùa và khí hậu trong năm. Như vậy, cứ mỗi 15 ngày lại có 1 tiết khí, mỗi tháng có 2 tiết khí. 24 tiết khí về cơ bản rơi vào các ngày gần như cố định theo dương lịch. Tiết khí trong 6 tháng đầu năm (từ tháng 1 đến tháng 6) đều rơi vào các ngày trước hoặc sau ngày 06 và ngày 21; tiết khí của 6 tháng cuối năm (từ tháng 7 đến tháng 12) đều rơi vào các ngày trước hoặc sau ngày 08 và ngày 23.
二十四节气的名称和意义分别是:
Tên gọi và ý nghĩa các tiết khí như sau:
立春、立夏、立秋、立冬,表示四季的开始。
Lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông: biểu thị sự bắt đầu của 4 mùa.
春分、秋分,是一年中昼夜一样长的两天。
Xuân phân, thu phân: là 2 ngày có thời gian ngày đêm dài như nhau trong năm.
夏至, 是一年中白天最长、黑夜最短的一天。
Hạ chí: là ngày có thời gian ban ngày dài nhất, ban đêm ngắn nhất trong năm.
冬至, 是一年中白天最短、黑夜最长的一天。
Đông chí: là ngày có thời gian ban ngày ngắn nhất, ban đêm dài nhất trong năm.
雨水,是开始下雨的意思。
Vũ thủy: có nghĩa là bắt đầu mưa.
惊蛰, 表示春雷响过以后,冬眠的昆虫被惊醒了。
Kinh trập: nói lên sự việc sau khi có tiếng sấm xuân thì côn trùng ngủ đông bừng tỉnh giấc.
清明, 是说春天到了以后,明净的春色代替了冬季寒冷枯黄的景色。
Thanh minh: sau khi mùa xuân đến, màu sắc xanh tươi của mùa xuân sẽ thay thế cảnh lạnh lẽo u ám của mùa đông.
谷雨, 表示从此雨水增多,对五谷的生长很有好处。
Cốc vũ: có nghĩa là bắt đầu từ ngày này lượng nước mưa sẽ tăng, có lợi cho việc trồng trọt.
小满,表示在夏季成熟的农作物籽粒开始饱满了。
Tiểu mãn: nói lên các hạt, quả của mùa hè đã bắt đầu chín, đầy đặn.
芒种,告诉人们小麦已经成熟了。
Mang chủng: nói cho mọi người biết rằng lúa mạch đã chín.
小暑、大暑,表示天气炎热的程度,大暑是一年中最热的时候。
Tiểu thử, Đại thử: biểu thị mức độ nóng của thời tiết, Đại thử là ngày nóng nhất trong năm.
处暑,表示炎热的天气快要过去了。
Xử thử: nói lên rằng những ngày nóng nực sắp qua đi.
白露,告诉人们开始下露水,天气就要冷了。
Bạch lộ: nói cho mọi người biết rằng đã bắt đầu có sương, thời tiết sắp lạnh rồi.
寒露,表明露水已重,天寒加剧。
Hàn lộ: chứng tỏ sương đã rất nhiều, thời tiết sẽ lạnh thêm.
霜降,是开始下霜的意思。
Sương giáng: có nghĩa là bắt đầu có sương.
小雪、大雪,表示到了下雪的时节和雪量大小的差别。
Tiểu tuyết, đại tuyết: chứng tỏ đã đến lúc có tuyết rơi và sự khác biệt về lượng tuyết rơi.
小寒、大寒,表示冬天寒冷的程度,大寒是一年中最冷的时候。
Tiểu hàn, đại hàn: nói lên mức độ lạnh của mùa đông, ngày đại hàn là ngày lạnh nhất trong năm.
二十四节气对中国的农业生产起很大的作用,人们为了方便记忆,还编出了“二十四节气歌”:春雨惊春清谷天,夏满芒夏暑相连,秋处露秋寒霜降,冬雪雪冬小大寒……
24 tiết khí có vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp tại Trung Quốc. Để tiện cho việc ghi nhớ, người ta đã sáng tác bài hát về 24 tiết khí. Nội dung bài hát như sau: Xuân vũ kinh xuân thanh cốc thiên, hạ mãn mang hạ thử tương liên, thu xử lộ thu hàn sương giáng, đông tuyết tuyết đông tiểu đại hàn...
theo trang WEB của Học Viện Khổng Tử

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Tam hợp và nhị hợp

Trong phong thủy, người ta có thể làm tăng cường khí chủ về các mối quan hệ bằng cách đặt hình ảnh của những con giáp thuộc tam hợp và nhị hợp trong vùng không gian sống và làm việc của bạn.




Việc bài trí trong không gian sống hay mang theo người cũng sẽ mang đến cho bạn vận may chủ về bạn bè tốt, người cố vấn, giúp đỡ và hỗ trợ trong cuộc sống. Sử dụng hình ảnh biểu tượng là một phần rất quan trọng trong phong thủy thực hành.
NHỮNG NGƯỜI HỢP TUỔI TRONG CUỘC SỐNG
Trong sinh hoạt, những người hợp tuổi rất quan trọng trong cuộc sống của bạn, vì vậy hãy tìm hiểu xem con giáp nào hợp với con giáp của bạn – từ đó biết được vận may nào sẽ xảy đến theo từng cặp con giáp hợp đi đôi với nhau.
Bạn sẽ thấy rằng Mùi và Ngọ đi đôi với nhau sẽ mang đến vận may về những người giúp đỡ, hỗ trợ trong cuộc sống. Tỵ và Thân đi với nhau mang đến vận may về cờ bạc và đầu cơ tích trữ. Dậu và Thìn đi với nhau mang lại nhiều bạn bè và những người đồng thuận, trong khi Tuất và Mẹo thu hút nhiều của cải bất ngờ. Dần và Hợi sẽ có nhiều bạn bè, còn Tí và Sửu cùng mang đến vận may về sự hòa thuận.
- Tam hợp:
+ Tỵ, Dậu, Sửu
+ Thân, Tý, Thìn
+ Hợi, Mẹo, Mùi
+ Dần, Ngọ, Tuất
- Nhị hợp:
+ Thìn, Dậu
+ Thân, Tỵ
+ Tí, Sửu
+ Hợi, Dần
+ Mùi, Ngọ
+ Mẹo, Tuất
Khi chú ý đến việc tăng cường năng lượng cho con giáp của bạn cũng như của những con giáp hợp với nó, bạn sẽ thấy rằng:
- Cuộc sống xã hội của bạn được cải thiện theo hướng tích cực.
- Bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn và các mối quan hệ được mở rộng.
- Bạn hài lòng với cuộc sống của mình, không còn gặp nhiều chuyện phiền toái và có được nhiều bạn bè hơn.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

Chọn năm sinh con theo ngũ hành



Ngũ Hành của bản mệnh là yếu tố đầu tiên được xem xét đến khi chọn năm sinh con. Khi sinh con, cần lựa chọn năm sinh để con không khắc với bố mẹ và ngược lại.
Quy luật tương sinh tương khắc của ngũ hành được dựa theo cách tính như sau:
• Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc – Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ – Thổ sinh Kim 
• Kim khắc Mộc – Mộc khắc Thổ – Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim 
Thông thường con khắc bố mẹ gọi là Tiểu Hung, bố mẹ khắc con là Đại Hung, nếu không tránh được Hung thì nên chọn Tiểu Hung sẽ đỡ xấu rất nhiều. Ví dụ: Bố mệnh Kim, mẹ mệnh Hỏa thì có thể chọn con sinh năm có bản mệnh Thổ là hợp tương sinh nhất.
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Thiên Can 

nguhanhsinhkhac Chọn năm sinh con theo ngũ hành

Thiên Can (hay còn gọi là Can) là cách đánh số theo chu kỳ 10 năm (Thập Can) của người Trung Hoa cổ. Can cũng phối hợp được với Ngũ Hành và Âm Dương: 
Can Giáp: Hành Mộc (Dương). 
Can Ất: Hành Mộc (Âm). 
Can Bính: Hành Hỏa (Dương). 
Can Đinh: Hành Hỏa (Âm). 
Can Mậu: Hành Thổ (Dương). 
Can Kỷ: Hành Thổ (Âm). 
Can Canh: Hành Kim (Dương). 
Can Tân: Hành Kim (Âm). 
Can Nhâm: Hành Thủy (Dương). 
Can Quý: Hành Thủy (Âm). 
Trong Thiên Can có 4 cặp tương xung (xấu) và 5 cặp tương hóa (tốt), làm cơ sở để lựa chọn năm sinh phù hợp.
4 cặp tương xung (xấu): 
• Giáp xung Canh 
• Ất xung Tân 
• Bính xung Nhâm 
• Đinh xung Quý 
5 cặp tương hóa (tốt): 
• Giáp – Kỷ hoá Thổ 
• Át – Canh hoá Kim 
• Bính – Tân hoá Thuỷ 
• Đinh – Nhâm hoá Mộc 
• Mậu – Quý hoá Hoả 
Như vậy, năm sinh của con sẽ có thể dùng Thiên Can để so với bố mẹ dựa vào các cặp tương xung và tương hóa. Nếu Thiên Can của con và bố mẹ có tương hóa mà không có tương xung là tốt, ngược lại là không tốt. 
Ví dụ: Bố sinh năm 1979 (Kỷ Mùi), mẹ sinh 1981 (Tân Dậu), con sinh 2010 (Canh Dần) thì bố mẹ và con không có tương xung cũng như tương hóa và ở mức bình thường. 
Chọn năm sinh con hợp tuổi bố mẹ dựa theo Địa Chi 
Địa Chi (hay còn gọi là Chi) là cách đánh số theo chu kỳ 12 năm (Thập Nhị Chi) và nói đơn giản là 12 con giáp cho các năm. Chi từng được dùng để chỉ phương hướng, bốn mùa, ngày, tháng, năm, giờ ngày xưa và Chi gắn liền với văn hóa phương Đông. 
Khi xem hợp – xung theo Chi, có các nguyên tắc cơ bản sau: 
• Tương hình (12 Địa Chi có 8 Chi nằm trong 3 loại chống đối) 
• Lục xung (6 cặp tương xung) 
• Tương hại (6 cặp tương hại) 
• Lục hợp (các Địa Chi hợp Ngũ Hành) 
• Tam hợp (các nhóm hợp nhau) 
Tương hình: 
• Tý chống Mão; 
• Dần, Tỵ, Thân chống nhau; 
• Sửu, Mùi, Tuất chống nhau. 
• Hai loại tự hình: Thìn chống Thìn, Ngọ chống Ngọ. 
• Dậu và Hợi không chống gì cả. 
Lục xung: 
• Tý xung Ngọ (+Thuỷ xung + Hoả) 
• Dần xung Thân (+ Mộc xung + Kim) 
• Mão xung Dậu (-Mộc xung -Kim) 
• Thìn xung Tuất (+Thổ xung +Thổ) 
. Sửu xung Mùi (-Thổ xung -Thổ) 
• Tỵ xung Hợi (Hỏa xung -Thuỷ) 
Tương hại: 
• Tý hại Mùi 
• Sửu hại Ngọ 
• Dần hại Tỵ 
• Mão hại Thìn 
• Thân hại Hợi 
• Dậu hại Tuất.
sausinh400 Chọn năm sinh con theo ngũ hành

Lục hợp: 
• Tý-Sửu hợp Thổ 
• Dần-Hợi hợp Mộc 
• Mão-Tuất hợp Hoả 
• Thìn-Dậu hợp Kim 
• Thân-Tỵ hợp Thuỷ 
• Ngọ-Mùi: Thái dương hợp Thái âm. 
Tam hợp: 
• Thân-Tí-Thìn hoá Thuỷ cục 
• Hợi-Mão-Mùi hoá Mộc cục 
• Dần-Ngọ-Tuất hoá Hoả cục 
• Tỵ-Dậu-Sửu hoá Kim cục. 
Như vậy, nếu dựa theo Địa Chi, việc chọn năm sinh, tuổi sinh cần chọn Lục Hợp, Tam Hợp và tránh Hình, Xung, Hại. Ví dụ: Bố tuổi Dần thì tránh con tuổi Thân, Tỵ, Hợi sẽ tránh được Xung của Địa Chi. 
Nói tóm lại, lựa chọn năm sinh con để hợp tuổi bố mẹ có thể dựa vào Ngũ Hành, Thiên Can hoặc Địa Chi, cũng có thể dựa vào cả 3 yếu tố trên và lựa chọn phương án tốt nhất. 
Tuy nhiên, các yếu tố này cũng chỉ là một phần trong cuộc đời con người, cũng có nhiều trường hợp bố mẹ khó chọn được năm để sinh con hợp tuổi. Do vậy không nên nhất thiết phải chọn năm để sinh, còn rất nhiều yếu tố khác như môi trường, xã hội, gia đình… hay kể cả về lý số cũng còn yếu tố tử vi để xem hung cát.

Sưu tầm nguồn CongDong.Cz

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

Tứ trụ nhập môn - Phần 1


Mỗi người khi sinh ra đều có 4 thông tin là năm, tháng, ngày và giờ sinh. 4 thông tin này khi chuyển sang lịch can chi được gọi là tứ trụ . Tứ trụ này quyết định vận mệnh của người đó . 
Lịch Can Chi không giống với dương lịch hay âm lịch mà chúng ta vẫn thường sử dụng, nên ở đây thống nhất mọi thông tin về lịch phải dùng dương lịch để tính toán cho tiện lợi và tháng 1 dương lịch được gọi là tháng 13 của năm trước đó. 

1 – Cách xác định Trụ năm - Tức năm sinh 
Theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý thì năm nay 2008 là năm Mậu Tý, năm 2009 là năm Kỷ Sửu,........ . Các năm trước đây hay sau này cứ theo bảng này tra là ra hết. Nhưng năm của lịch Can Chi thường bắt đầu vào ngày 4/2 hoặc ngày 5/2 dương lịch, khác với dương lịch bắt đầu vào ngày 1/1, và càng khác so với Âm lịch tính năm mới theo lịch mặt Trăng. Muốn xác định chính xác năm mới hay các tháng theo lịch Can Chi bạn đọc phải tra theo bảng xác định lệnh tháng phía dưới. Bảng này xác định tháng, ngày, giờ và chính xác tới phút bắt đầu năm mới cũng như tháng mới (lệnh tháng) của lịch Can Chi từ năm 1898 đến năm 2018 (phần này được trích ra từ cuốn sách Lịch Vạn Niên) Như vậy thời khắc đầu tiên của năm mới để tính tứ trụ cho một người là 1 phút sau của tiết Lập Xuân trên lịch (Lịch Vạn Niên) 
(Chú ý: Bảng xác định lệnh tháng này của Trung Quốc nên nó được tính theo giờ Bắc Kinh, còn “Ngày giờ Sóc (New Moons) và Tiết khí (Minor Solar Terms) từ 1000 đến 2999“ trên Google là của Việt Nam theo giờ Hà Nội nên giờ giao lệnh ít hơn của Trung Quốc 60’. Hiện giờ tôi chưa biết xác định lệnh tháng theo giờ Bắc Kinh hay Hà Nội là đúng. Phải chăng căn cứ theo múi giờ quốc tế thì cứ ít hơn múi giờ Bắc Kinh bao nhiêu múi thì lệnh tháng phải giảm đi từng ấy tiếng, cũng như cứ nhiều hơn múi giờ Bắc Kinh bao nhiêu múi thì phải cộng thêm từng ấy tiếng theo bảng xác định lệnh tháng ở trên ?) . 

Ví dụ : Ngày 4/2 /1968 theo lịch can chi thuộc năm nào? Nó vẫn thuộc năm Đinh Mùi (1967) nhưng tới 2,08’ (1,08’ theo giờ Hà Nội) ngày 05/2/1968 nó mới thuộc năm Mậu Thân (1968).
Ví dụ : Lúc 7,59’ngày 04/2/1969 dương lịch thuộc năm nào của lịch can chi ?. Đã thuộc năm Kỷ Dậu (1969) ,còn trước 7,59’ vẫn thuộc năm Mậu Thân (1968) .
Qua đây chúng ta thấy theo lịch Can Chi thì năm mới được tính chính xác tới phút khi trái đất quay hết một vòng xung quanh mặt trời (không như chúng ta thường tính lúc 0,00’ của đêm giao thừa).

Nghĩa là chúng ta đã có một trụ đầu tiên, đó là trụ năm (tức năm sinh). 

2 – Cách xác định Trụ tháng - Tức tháng sinh (lệnh tháng) 
Theo lịch Can Chi thì tháng đầu tiên của một năm luôn luôn là tháng Dần sau đó là tháng Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Tháng trong lịch can chi được xác định khác với dương lịch. Muốn xác định chính xác tháng sinh (lệnh tháng) theo lịch can chi bắt buộc bạn đọc phải tra theo bảng xác định lệnh tháng ở trên.
Ví dụ : Ngày 07/10/1968 thuộc tháng nào của lịch can chi? Tra bảng ta thấy nó thuộc tháng Dậu, còn từ ngày 08/10/1968 nó mới sang tháng Tuất.

Khi đã biết địa chi của một tháng thì cách xác định can của tháng đó hoàn toàn phụ thuộc vào can của năm đó như sau:
Các năm có can là Giáp và Kỷ thì các tháng của năm đó lần lượt là : Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tị, ...... Đinh Hợi (tức là các can chi phải tuân theo đúng quy luật của vòng tròn đã nói ở trên).
Các năm Ất và Canh các tháng là : Mậu Dần, Kỷ Mão, .........., Kỷ Hợi.
Các năm Bính và Tân ------------- : Canh Dần,........................., Tân Hợi.
Các năm Đinh và Nhâm ----------- : Nhâm Dần, ......................, Quý Hợi.
Các năm Mậu và Quý ------------- : Giáp Dần, ........................, Ất Hợi. 

Bảng tra can tháng theo can năm
Posted Image


Ví dụ : Can của tháng Thìn của năm 1968 là gì? Tra theo bảng xác định lệnh tháng thì năm 1968 là năm Mậu Thân, vì vậy nó thuộc năm tra theo các can Mậu và Quý. Các tháng của nó lần lượt là : Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, ........ Do vậy tháng Thìn là Bính Thìn. 
Đến đây ta có trụ thứ hai, đó là trụ tháng. 

3 - Cách xác định Trụ ngày - Tức ngày sinh 
Trong một năm có các ngày 1/3, 30/4, 29/6, 28/8, 27/10, 26/12 và ngày 24/2 của năm sau có các can chi giống nhau. Cho nên chúng ta thấy can chi của ngày 24/2 và ngày 1/3 trong cùng một năm dương lịch là khác nhau bởi vì thường chúng chỉ cách nhau 5 ngày, còn đối với năm nhuận chúng cách nhau 6 ngày (bởi vì tháng 2 có ngày 29). Dựa vào yếu tố này nếu biết trước can chi của 1 ngày bất kỳ của 1 năm thì qua bảng 60 năm Giáp Tý chúng ta có thể tính được can chi của ngày 1/3 của năm đó, sau đó chúng ta tính được can chi của ngày 24/2 cùng năm và nó chính là can chi của ngày 1/3 của năm trước liền với năm đó. Cứ như vậy ta có thể biết được can chi ngày 1/3 của tất cả các năm (chú ý tháng 2 của năm 1900 mặc dù là năm nhuận nhưng nó chỉ có 28 ngày). 

Ví dụ : Ngày 14/7/1968 theo lịch can chi có can chi là gì? Ngày 1/3 của năm 1968 tra theo bảng là ngày Canh Ngọ. Vậy ngày 29/6/1968 cũng là ngày Canh Ngọ (ta chọn nó bởi vì nó gần nhất với ngày cần phải tìm), từ ngày 29/6 đến 14/7 cách nhau đúng 15 ngày, vì vậy theo bảng nạp âm 60 năm Giáp Tý, ngày Canh Ngọ (29/6) sau 15 ngày sẽ đến ngày Ất Dậu (14/7) . 
Đến đây ta có trụ thứ ba, đó là trụ ngày . 

4 – Cách xác định Trụ giờ - Tức giờ sinh 
Theo lịch Can Chi này họ đã xác định giờ đầu tiên trong một ngày của lịch Can Chi luôn luôn là giờ Tý và các giờ sau tuân theo thứ tự như sau :
Từ 23 giờ đến 1 giờ là giờ Tý . Từ 11 giờ đến 13 giờ là giờ Ngọ:
Từ 1 --------3 ------------ Sửu Từ 13 --------15 ---------- Mùi
Từ 3 ---------5 ----------- Dần Từ 15 ------- 17 ---------- Thân
Từ 5 ---------7 ----------- Mão Từ 17 --------19 -----------Dậu
Từ 7 ---------9 ----------- Thìn Từ 19 --------21 -----------Tuất
Từ 9 --------11 ----------- Tị Từ 21 --------23 ----------Hợi 
Tức là cứ 120 phút (hai tiếng) tương ứng với một giờ của lịch can chi.

Ví dụ : 23 giờ 18 phút ngày 16/5 thuộc về ngày nào của lịch can chi? Theo lịch can chi thì từ 23,00’ ngày 16/5 trở đi thuộc về ngày hôm sau, tức là phải thuộc ngày 17/5.
Khi đã biết Địa chi của giờ rồi thì hàng Can của nó hoàn toàn phụ thuộc vào Can của trụ ngày như sau : 
Các ngày có can là Giáp và Kỷ có các giờ lần lượt là : Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, ............. , Ất Hợi (các can tuân theo quy luật vòng tròn như đã nói ở trên) .
Các can ngày là Ất và Canh có các giờ lần lượt: Bính Tý,................, Đinh Hợi. 
Các..................... Bính và Tân............................... : Mậu Tý,................, Kỷ Hợi.
Các .....................Đinh –Nhâm ............................. : Canh Tý,.............., Tân Hợi.
Các .....................Mậu – Quý ................................ : Nhâm Tý,............., Quý Hợi.

Ví dụ : Các can của giờ Mão và Ngọ của ngày Đinh Dậu theo lịch can chi là gì ? Can của ngày Đinh theo như trên ta có các giờ lần lượt là : Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, ..... Vì vậy can của giờ Mão là Quý Mão và giờ Ngọ là Bính Ngọ.

Đến đây ta có trụ thứ tư, đó là trụ giờ

Chúng ta đã có đủ bốn trụ của một người.

Ví dụ 1 : Một người sinh ngày 12/11/1965, lúc 8,00 am, có tứ trụ : 
Năm Ất Tị - tháng Đinh Hợi - ngày Canh Ngọ - giờ Canh Thìn.

Ví dụ 2 : Nữ sinh ngày 5/2/1968 lúc 2,07’ có tứ trụ: 
Đinh Mùi - Quý Sửu - ngày Ất Tị - Đinh Hợi. 

Ví dụ 3 : Nữ sinh ngày 5/2/1968 lúc 2,08’ có tứ trụ : 
Mậu Thân - Giáp Dần - ngày Ất Tị - Đinh Hợi.

Qua ví dụ 2 và 3 chúng ta thấy hơn nhau 1 phút là sang năm khác, tháng khác và tứ trụ sẽ khác nhau. Cho nên giờ và phút để xác định lệnh tháng là vô cùng quan trọng trong việc xác định tứ trụ.
Nếu theo cách xác định mặt trời ở đúng đỉnh đầu tại địa điểm nơi người đó được sinh là 12,00’ thì cách xác định giờ sinh ở bảng trên chỉ đúng với những người được sinh ở vị trí đúng giữa múi giờ đó, còn những người được sinh trong cùng một múi giờ mà ở càng xa điềm giữa của múi giờ đó về hai bên thì sai số về phút càng lớn (có thể từ -60’ tới +60’). 
Cho nên trong các trường hợp này tốt nhất là lấy cả hai tứ trụ để dự đoán. Đến khi trong thực tế xẩy ra các sự kiện phù hợp với tứ trụ nào thì tứ trụ đó mới được xem là chính xác cho người đó.

Bảng tra can giờ theo can ngày 

Posted Image

     
    Trích theo Phuclaithanh


Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Thái Sơn Thạch cảm đương


Thái Sơn Thạch cảm đương trấn tà - Chống đỡ sát khí



Mô tả :
Đây là hình ảnh ngọn núi Thạch cảm đương với hai con nghê đứng hai bên. Vật khí này dùng để vô hiệu hóa sát khí. Nó được coi là vật khí mạnh mẽ để bảo trợ cũng như mang đến may mắn, nó có thể tiếp dẫn 10 sở nguyện như :
1. Trừ hại của Bát quỉ

2. Bảo vệ chống lại tai ách đến gia đình, nhà cửa.
3. Hỗ trợ và loại trừ cạnh tranh đối với những nhân vật cao cấp và chống đỡ lại những đe dọa từ bên ngoài
4. Nó có tác dụng loại trừ tà khí, giữ sức khỏe cho gia đình
5. Nó mang ý nghĩa cầu may mắn đến nhà
6. Nó có ý nghĩa cứu giải cho thành viên bị đang đau yếu trong gia đình
7. Nó dẫn lái tà khí chệch ra ngoài nhà, có tác dụng như một gương bát quái
8. Nó có ý nghĩa chống lại những tai nạn từ bên ngoài xâm nhập
9. Chống lại sự dòm ngõ của những kẻ trộm cắp
10. Sự hiện diện của nó tựa như tượng Phúc Lộc Thọ
Thạch cảm đương dùng để chống lại sát khí, tử khí từ nghĩa trang, bệnh viện, nhà xác, đám tang, hoặc những bóng ma từ tai nạn ở đường gần nhà,…vv
Lịch sử của Thạch Cảm đương
Chuyện xảy ra tại Trung hoa cách đây hơn 1000 năm, có một gia đình trong ngôi làng Tai Ann. Trong một thời gian, cô gái lớn trong gia đình này thấy gió mang đến một bóng ma từ phía Đông Nam hàng ngày vào lúc trời tối làm cô ta trở nên thay đổi tính nết . Càng về sau cứ đến giờ ấy là cô ta lên cơn điên dại. Mẹ cô lên núi Tai San tìm đạo sỹ nhờ cứu giúp. Đạo sỹ tên là Thạch cảm đương. Vị đạo sỹ này đã đuổi con ma để cứu gia đình cô. Không bao lâu, ở làng bên người ta lại thấy con ma này xuất hiện ở phía Nam quận Hokkien. Một lần nữa, Thạch cảm đương lại được mời để trừ ma. Và đây không phải là lần cuối cùng, vì con ma lại xuất hiện ở chỗ khác gây tác họa với nhiều người khác. Người ta nghĩ ra một cách là chế tác ra một phiến đá khắc tên Thạch cảm đương và bày trước cửa. Từ đó, tên của Thạch cảm đương làm cho ma quỉ sợ hãi đi mất, và từ đó dân chúng được yên ổn. Từ đấy trở đi, những nhà Phong thủy bắt đầu dùng tên Thạch cảm đương như một phương pháp giản dị nhất để hóa giải tà khí từ bên ngoài xâm nhập, nhất là ở Phúc Kiến và Quảng đông (Trung quốc). Những nơi này người ta tin dùng Thạch cảm đương hơn gương bát quái khi trước nhà có con đường có hình chữ T, hoặc những nơi nhiều sát khí như nêu trên mà họ lại không muốn làm tổn hại đến những người hàng xóm đối diện (như khi dùng gương bát quái). Một số dạng Thạch cảm đương hiện nay đang phổ biến là :
1. Phiến đá có khắc chữ Thái Sơn Thạch cảm đương
2. Thạch cảm đương với đầu con nghê
3. Thạch cảm đương với Long qui
4. Kỳ lân hai chân đỡ Thạch cảm đương
5. Thạch cảm đương với hai con Nghê
Trong hình của sản phẩm là loại Thạch cảm đương với hai con Nghê. Đây thực ra là hai con chó bằng đá được tìm thấy ở những ngôi chùa thờ Phật cổ trên núi. Chúng là những con vật được tuyển chọn trong Phật giáo, vì hội tụ sự khôn ngoan, khỏe mạnh và có thiên năng bảo vệ. Đó thực sự là hình ảnh của những vệ sỹ trung thành và đáng tin cậy đã được thuần hóa. Tới ngày nay chúng là biểu tượng quen thuộc của sự bảo vệ và chống lại mọi tà khí cho những nơi linh thiêng, các vị trí thương mại, cửa hàng, ngân hàng và biệt thự.
Vật khí này có thể đặt để như sau: trong hoặc ngoài nhà
1. Chống lại tà khí, sát khí xâm nhâp ở cửa chính, cửa sổ (nhà tang lễ, nghĩa trang, bệnh viện, viện dưỡng bệnh, hoặc có ngọn núi u ám).
2. Nó có thể giúp đẩy lui giải trừ tà ma và âm khí khi thay đổi kích thước, hoặc hướng cửa chính
3. Nó có tác dụng canh giữ nhà bạn chống lại sự dòm ngó của trộm cắp, và những tai ách bất thường, những đe dọa của kẻ xấu. Biến đổi những bất lợi đó trở thành cát khí có lợi cho làm ăn kinh doanh và cải thiện Phong thủy tốt lên ở lối vào nhà
4. Nó có thể đặt trong nhà nhưng hướng ra cửa để chống lại các bất lợi những nơi xuất hiện sát khí, tà khí, các phi tinh xấu mà bạn không có điều kiện đặt nó ở ngoài nhà.


Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Toán Bàn Hóa Sát

  Toán Bàn "算盤" là công cụ tính toán đã được người Trung Hoa sớm dùng và dùng rất phổ biến, ngoài dùng bàn tình để tính toán rất nhiều thứ, người Trung Quốc còn dùng Toán Bàn - Bàn Tính làm đồ hóa giải trong Phong Thủy. Trong Kinh Dịch của người Trung Hoa mọi con số đều có ý nghĩa tượng trưng, có khi các con số tổ hợp với nhau thành các kết cấu đặc thù . Đối với Bàn Tính việc thể hiện (Tượng) các con Số (Lý) là rất thích hơp. Cộng thêm chất liệu chế tạo : - Đồng, Gốm, Ngọc, Gỗ .....nên nó có tính Ngũ Hành rất đa dạng thích hợp với sự sử dụng trong Phong Thủy hóa sát hoặc tăng vượng .



Chiếc Bàn Tính Khổng Lồ Hình Bát Quái Cổ Đại Được Trưng Bày Ở Viện Bảo Tàng

 Theo lý Quẻ Bàn Tính có ngoại hình chữ nhật, trong Ngũ Hành thuộc Mộc, các Hạt của bàn tính là hình tròn, trong Ngũ Hành thuộc Kim. Cho nên bàn tính đồng thời mang cả hai thuộc tính Kim và Mộc, có thể khắc, tiết 9 – 5, 2 – 5 …đều là tai Bệnh tinh hoặc Môn Khẩu Điện Can Sát….cùng một số vật cao dài khác, các hạt châu trên bàn tính có hình tròn nó có năng lượng giống như mặt kính lồi, có thể đem Sát Khí tán ra bốn phía, có tác dụng hóa giải lớn. Bàn tính lại là thuộc về chất liệu Kim (Đa số), cũng tăng cường tính Kim cho bàn tính.
 Có thể đem các hạt châu trên bàn tính đẩy thành 38 – 38 – 38 – 38…. Dùng keo gắn lại. Lý Quẻ của nó ở chỗ hợp số 38 là thuộc Tiên Thiên Mộc, có tác dụng tăng cường tính Mộc. Đem nó treo trên cửa, đối diện thẳng với Mộc Hình Sát, Thổ Hình Sát sẽ tiết và khắc được. Có tác dụng tiêu giảm Sát xu cát tỵ hung.

Theo: phongthuy.com.vn