Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Tín ngưỡng dân gian với việc thờ Thần

Trong đời sống tâm linh người Việt thì tháng Chạp và tháng Giêng là những tháng tập trung nhiều ngày Lễ, Hội. Việc này hình thành, tồn tại từ lâu đời và mấy năm gần đây càng rộ nở bởi nó có cội nguồn từ vấn đề “tín ngưỡng” và “tôn giáo”. Tế, Lễ, Thờ, Cúng là những vấn đề nhậy cảm và không ít người tuy tham gia, đôi khi khá tích cực nhưng đâu đã hiểu hết cội nguồn, ý nghĩa của nó.

1. Trước hết về ngữ nghĩa:

Theo đa số các Từ điển thì:

Đạo (H: 道,宗敎, A: The absolute principle - The religion, P: Le principle absolu - La religion) hay Đạo lý có nhiều cách giải thích với mỗi tôn giáo khác nhau. Nhưng chung quy lại đó là một cái lẽ nhất định ai cũng phải noi đấy mà theo. Như “nhân đạo chủ nghĩa” 人道主義 cái chủ nghĩa về đạo người , “Vương đạo” 王道 đạo lý của vương giả, “bá đạo” 霸道 đạo lý của bá giả, các nhà tôn giáo đem các lẽ hay trong tôn giáo mình nói cho người biết mà theo gọi là “truyền đạo” 傳道.


Tín ngưỡng (H: 信仰, A: The religious belief, P: La croyance religieuse) là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng Việt Nam giống như các bộ phận khác của văn hóa Việt Nam đều mang những đặc trưng của văn hóa nông nghiệp. Đó là: Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên nên sùng bái tự nhiên; Hài hòa âm dương: thể hiện ở các đối tượng thờ cúng: Trời-Đất, Tiên-Rồng, ông đồng-bà đồng,...; Đề cao phụ nữ: thể hiện ở rất nhiều nữ thần như các Mẫu Tam phủ ( Trời-Đất-Nước), Mẫu Tứ phủ (Mây-Mưa-Sấm-Chớp),...; Tính tổng hợp và linh hoạt và hệ quả là tôn giáo đa thần chứ không phải độc thần như trong nhiều tôn giáo khác.

Tôn giáo (H: 宗敎, A: The religion, P: La religion) là một tổ chức lo việc tu hành, dạy con người làm điều lành, lánh điều dữ, hiền hòa để trở thành bậc cao thượng. Một tôn giáo cần phải có khởi xướng, gọi là Giáo chủ; có hệ thống giáo lý bao gồm tín ngưỡng và tín điều; được tổ chức thành giáo hội để truyền bá giáo lý và có một khuôn mẫu lễ nghi thờ phượng và tế tự.

Tín đồ (H: 信徒, A: Adept, disciple, P: Adepte, disciple) là người tin theo một tôn giáo và gia nhập vào tôn giáo ấy. Trong đó có Thiện nam Tín nữ (H: 善男信女, A: The believers, P: Les croyants) chỉ những nam giới, phụ nữ có tín ngưỡng tôn giáo, tức là nam, nữ tín đồ của một tôn giáo.
Trên thực tế tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Tuy cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng đều là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên”, đối lập với cái “trần tục” mà con người có thể sờ mó, quan sát được. Song thực ra tín ngưỡng thì mang tính dân tộc, dân gian nhiều hơn và không tổ chức hặt chẽ như tôn giáo. Chỉ khi phát triển đến một mức độ nào đó thì tín ngưỡng có thể thành tôn giáo.

Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử Việt Nam ta có những tôn giáo ngoại nhập và cả những tôn giáo bản địa. Tôn giáo ngoại nhập đông tín đồ là: Đạo Lão, Đạo giáo (H: 道教,老教, A: Taoism, P: Taoisme), Đạo Khổng, Nho giáo (H: 儒教, 儒教, A: Confucianism, P: Confucianisme), Đạo Phật, Phật giáo (zh. 佛教, sa. buddhaśāsana, pi. buddhasāsāna, bo. sangs rgyas bstan pa སངས་རྒྱས་བསྟན་པ་, A: Buddhism, P: Bouddhisme), Đạo Thiên Chúa (còn gọi là Công giáo, Ki-tô giáo hoặc Cơ Đốc giáo (H: 天主敎, 公敎, A: The Christianism (Catholicism), P: Le Christianisme (Catholicisme), Đạo Tin Lành (H: 新教, A: Protestantism, P: Protestantisme). Còn tôn giáo bản địa có: Đạo Cao Đài (H: 高臺大道, A: The Great Way of Caodaism, P: La Grande Voie du Caodaisme), Đạo Phật Hòa Hảo 和好教.
Trong tín ngưỡng dân gian thì việc thờ Thần (H: 神靈, A: The spirits, P: Les esprits, các Đấng thiêng liêng trong thế giới vô hình) và thờ cúng Tổ tiên (H: 祖宗, A: The ancestors, P: Les ancêtres) của người Việt gần như được nâng lên thành tôn giáo và rất được người Việt chăm lo, cẩn trọng. Vấn đề Thờ cúng Tổ tiên còn được gọi là “Đạo Ông Bà” thì ai cũng rõ và đã từng được phổ biến nhiều trên sách báo và cả trang này nhưng còn việc thờ Thần thì chưa được tìm hiểu thấu đáo và phổ biến nhiều.

2. Thờ Thần trong tín ngưỡng dân gian của người Việt:

Thờ Thần 神 là tín ngưỡng như là một “đạo thuần Việt”, khởi nguồn từ người Việt cổ và luôn đồng hành cùng dân tộc.
Từ thủa sơ khai, người Việt tin là có thần linh ở khắp mọi nơi, mọi chốn và họ thờ phụng tất cả các sức mạnh ấy. Do vậy mới có Thần Núi, Thần Sông, Thần Đất, Thần Bếp…Đạo thờ Thần không có giáo chủ, không có giáo điều cũng tương tự như đạo thờ cúng tổ tiên về ngôi vị thờ và nghi lễ cúng bái. Một số vị thần linh trong nhà, trong làng và các vị thần chung mà người Việt thờ cúng:

2.1. Thổ Công:

Táo quân (H: 灶君 - 灶王, A: The genii of kitchen, P: Les génies du foyer) là vua bếp, tức là vị Thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà.
Thổ Công-Thổ Địa-Thổ Kỳ (H: 土公 - 土地 - 土祇, A: The Genii of the home, P: Les Génies de la maison) là ba vị thần được thờ trong gia đình, một dạng của Mẹ Đất, là vị thần trông coi nhà cửa, định đoạt họa phúc cho một gia đình. Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Một số giả thuyết cho rằng Thổ Công là một trong ba vị Táo Quân xuất hiện trong truyện sự tích Táo Quân (hay Sự tích ba ông đầu rau). Người chồng mới là Thổ Công (trông coi việc bếp núc, còn gọi là “vua bếp”), người chồng cũ là Thổ Địa (trông coi việc nhà cửa), người vợ là Thổ Kỳ (trông coi việc mua bán). Tuy nhiên, một số người cho rằng Thổ Công là vị thần cai quản vùng đất còn Táo Quân chỉ coi việc bếp núc trong nhà
Thổ Công được nhiều người tin là vị thần quan trọng nhất trong gia đình, nhằm tránh hồn ma quỷ xâm nhập quấy nhiễu gia chủ. Tổ tiên có công sinh thành dưỡng dục nên được tôn vinh nhất. Bàn thờ tổ tiên ở giữa, vị trí quan trọng nhất, bàn thờ Thổ Công ở bên trái, quan trọng thứ hai. Bàn thờ Thổ Công gồm một hương án kê sát tường. Trên hương án có một mâm nhỏ, ba đài rượu có nắp đậy; phía trước là bình hương hoặc đỉnh trầm; hai bên bình hương là đôi nến; đằng sau là bài vị Thổ công. Bài vị có thể là một cái mũ (có thể là 3 cỗ mũ – mũ có cánh chuồn dán trên một bộ áo và đôi hia), ghi đủ danh vị 3 ngài là: “Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân, Thổ địa Long mạch tôn thần, Ngũ phương ngũ thổ Phúc đức chính thần” hay ghi gọn là 定福灶君”Định phúc Táo quân”. Hai bên bài vị có đôi câu đối 有德能司火, 無私可達天 “Hữu Đức năng ti Hỏa, Vô tư khả đạt Thiên”. Ở Nam bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất (đất phải về với đất), nhiều nơi còn gọi Ông Địa là Thần Tài (mọi thứ đều từ đất mà ra).
Người Việt cúng Thổ công vào những ngày giỗ tết, sóc, vọng. Lễ cúng tùy theo gia chủ. Có thể là chay hay mặn và khấn đủ danh vị 3 ngài nói nôm na là Ba vị Táo. Khi cúng lễ tổ tiên, người ta đều phải khấn Thổ Công trước để xin phép cho tổ tiên về.
Những gia đình không lập bàn thờ riêng thì ngày 23 Chạp có cúng. Có thể đủ 3 bộ hay chỉ 1 bộ của Thổ công. Mầu mũ hia thay đổi từng năm: năm hành Kim (Canh, Tân) mầu vàng; Mộc (Giáp, Ất) mầu trắng; Thủy (Nhâm, Quý) mầu xanh; Hỏa (Bính, Đinh) mầu đỏ, Thổ (Mậu, Kỷ) mầu đen. Nhưng thực tế, ngày nay đồ vàng mã ngày càng nặng về lòe loẹt, mấy ai chú ý đến mầu phù hợp cho từng năm! Khi cúng xong hóa kèm cả cá vàng.

2.Thần tài

Thần tài (H: 神財, A: The Genius of fortune , P: Le Génie de fortune) là vị thần mang tài lộc đến cho gia đình và bàn thờ thường được thiết lập ở nơi xó xỉnh góc nhà hàng hiên. Tục thờ Thần tài được người Tàu truyền cho dân ta, với nhiều sự tích nhưng dân gian thường nhắc hai sự tích: một cô gái tên là: Như Nguyện ở hồ Thanh Thảo; là ông Triệu Công Minh ở núi Võ Đang. Khi thờ Thần tài, người Việt sáp nhập Thần tài vào các Thần bản gia như: Thổ địa, Ông Địa, Ông Táo.

Nơi thờ Thần tài là một chiếc khám nhỏ có dán bài vị bằng giấy hay kính đỏ, chữ nhũ vàng có đề các chữ sau:
- Bên trên vẽ một cái cổng mà hai trụ có rồng quấn, trên cổng có chữ: 聚寶堂 “TỤ BẢO ĐƯỜNG”, nghĩa là ngôi nhà có tụ lại những thứ quí báu, phía dưới có vẽ một cái TỤ BẢO BỒN là cái chậu huyền diệu chứa của báu.
-Hai hàng chữ lớn ở chính giữa là danh hiệu của các Thần bản gia thờ: 五方五土龍神 (Ngũ Phương ngũ Thổ Long thần, tức: Hoàng đế ở Trung ương, Bạch đế ở hướng Tây, Hắc đế ở hướng Bắc, Thanh đế ở hướng Đông, Xích đế ở hướng Nam, Thổ Công chủ nền nhà, Thổ Thần chủ khu đất, Thổ Địa trực ở cổng để tiếp dẫn Thần Tài vào nhà, Thổ Phủ bảo hộ các kho hàng và Thổ Kỳ cai quản mặt đất nói chung); 前後地主財神 (Tiền hậu địa chủ Tài thần, tức Thần tài chủ đất trước kia và Thần tài chủ đất hiện nay); quanh hai dòng này là các chữ 招財 ( Chiêu tài: mời gọi tiền của), 進寶 (Tiến bảo: dâng hiến bảo vật), 如意吉祥 (Như ý cát tường: tốt lành như mong muốn), 一帆風順 (Nhất phàm phong thuận: thuận buồm xuôi gió), 四季平安 (Tứ quí bình an: bốn mùa bình an).

- Hai bên khám có đôi câu đối: 土能生白玉 (Thổ năng sinh Bạch ngọc, Đất thường sanh ngọc trắng) 地可出黃金 ( (Địa khả xuất Hoàng kim, Đất khá xuất vàng ròng). Ngoài bài vị Thần Tài còn có: tượng Ông Địa và tượng Ông Thần Tài. Trong khám còn có đèn nến, ly nước, ly rượu, mâm bồng đặt hoa quả bánh kẹo. Việc cúng Thần tài thực hiện quanh năm, đặc biệt những ngày giỗ, tết, sóc, vọng, mỗi dịp xuất vốn làm ăn buôn bán. Khi đó gia chủ thắp hương, khấn vái cầu xin Thần tài cho mua may bán đắt, trúng mối lời nhiều, đem lại nhiều tiền bạc sung túc.

2.3.Tiên sư, Thánh sư hay Nghệ sư
Là thờ người có công lớn đối với một nghề nào đó hoặc giúp phát triển hoặc sáng tạo ra nghề đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập. Đây chính là đạo “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt. Bàn thờ này được đặt ở bên cạnh bàn thờ Gia tiên, phía bên kia là bàn thờ Thổ công. Bài vị của Thánh sư có thể là một bức ảnh của vị Thánh sư.
Ngoài những ngày giỗ tế, người ta cúng Thánh sư vào kỵ nhật của Thánh sư; để nhớ ngày qua đời của ông tổ nghề của mình.

2.4.Tiền chủ
Là việc thờ chủ cũ 前主 của ngôi nhà để cầu mong vong hồn họ khỏi về quấy rối. Bàn thờ là cây hương đặt ngoài sân, không có bài vị. Cúng vào ngày 01, rằm với hương hoa quả. Khi khấn chỉ cần “Bản gia tiền chủ”.

2.5. Thờ Quan Công, Thần Hổ, Sơn thần, Mộc tinh:
Nếu thờ Thần Hổ có thể thờ Bạch Hổ hay Ngũ Hổ và khi cúng phải có thịt sống hoặc trứng sống. Khi còn ở quê tôi thấy nhà Cậu Cả, anh trai Mẹ tôi có thờ thần Hổ.

2.6.Thành hoàng làng:
Thành hoàng Thần (H: 城隍神, A: The tutelary spirit of a city, P: Le génie tutélaire d"un cité) là vị Thần có trách nhiệm ủng hộ (về phương diện thiêng liêng) dân chúng sống trong một cái thành, trong một thị trấn, hay trong một vùng dân cư. Nếu Thành hoàng ủng hộ dân chúng trong một làng, một xã thì gọi là Thần hoàng bổn cảnh (H: 神隍本境, A: The tutelary Genius of a village, P: Le Génie tutélaire d"un village) tương tự như việc thờ tổ tiên và Thổ Công trong mỗi gia đình.
Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng, xã đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không “hay ho” gì như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp... nhưng họ chết vào “giờ thiêng”. Những vị này được triều đình xem xét, Vua (đứng vào hàng Thánh nên có quyền phong Thần cho các bề tôi có công lớn) ban sắc chỉ cho làm Thành hoàng trong địa phương đó, để phù hộ dân chúng trong làng ấy và hưởng được cúng tế của dân làng. Việc phong Thần nầy phù hợp lòng dân, vừa thúc đẩy nhân tài ra giúp nước, lập công với triều đình.

2.7. Tứ bất tử:
Tứ bất tử (H: 四不死, A: The four immortals, P: Les quatre immortels) là Bốn vị thánh bất tử mà tiếng tăm tốt vẫn lưu truyền mãi mãi trong cõi nhân gian từ đời nầy qua đời khác, gồm: Tản Viên (biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội), Thánh Gióng (biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm), Chử Đồng Tử (biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất) và Liễu Hạnh (biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần). Nhưng có ý cho rằng đó là bốn bậc không bao giờ chết, là: Thần, Thánh, Tiên, Phật.

Như vậy, tuy không có giáo chủ, giáo lý, giáo hội nhưng tín ngưỡng dân gian hình thành và tồn tại cùng dân tộc, nó có sức mạnh lớn lao. Trong đó việc thờ Thổ Công và Thờ cúng Tổ tiên là phổ cập nhất. Đây là những tập tục gần như trở thành tôn giáo của người Việt. Mặc dù theo hay không theo một tôn giáo nào nhưng mọi gia đình Việt đều quan tâm và trân trọng việc thờ cúng này. Trong điều kiện hiện đại, tuy có những biến đổi mới nhưng những gì tốt đẹp, chắt lọc qua bao đời vẫn chứng tỏ được sức trường tồn của nó. Những cán bộ (như anh em tôi chẳng hạn) tự ghi trong lý lịch là không theo tôn giáo nào nhưng ai mà không nhớ ngày giỗ của Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, ai mà không cúng Ông Táo Ông Công ngày 23 tháng Chạp tới, ai chưa từng vãng cảnh Đền, Phủ, Miếu?

Đáng buồn là việc thờ Thần ngày nay có xu hướng “thương mại hóa” và tốn kém không ít tiền của, đâu còn nét nguyên sơ đầy tính nhân văn vốn có.

Lương Đức Mến

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Chọn tuổi làm nhà

 
Chọn thời điểm xây nhà là 1 việc vô cùng quan trọng. Khi chúng ta chọn được vị trí tốt để xây nhà, thiết kế hướng và các yếu tố trong ngôi nhà phù hợp, thì công việc còn lại là xác định thời điểm xây nhà, tức là xác định yếu tố "Thiên Thời". Nếu việc lựa chọn thời điểm xây dựng, tức ngày, giờ, tháng năm tốt sẽ khiến cho Phong Thuỷ nhà ở đã tốt càng tốt hơn gấp bội, gia chủ sẽ nhanh chóng thịnh vượng, tài vận hanh thông. Ngược lại, việc chọn ngày, giờ, tháng năm xây nhà không tốt, nhất là vi phạm các cấm kỵ Phong Thuỷ thì làm giảm sự tốt đẹp của Phong Thuỷ ngôi nhà, gây suy bại và nhiều điều xấu cho gia đình.
Việc chọn năm được tuổi xây nhà dựa vào việc phân tích các yếu tố Tam Tai, Kim Lâu, Hoàng Ốc:
1-Tam tai: gia chủ khi chọn tuổi xây nhà sẽ xem năm bị tam tai như sau:
    12 con Giáp được chia làm 4 tam hợp: Khi vào vận tam tai thì hay khốn đốn, trắc trở, vất vả. Đặc biệt là khi cả vợ chồng cùng nằm trong tam hợp tuổi nói trên vì đôi bên đều phải mệt mỏi cùng lúc. Mức độ cộng hưởng sẽ làm ảnh hưởng nặng đến gia đình. Đó cũng là thiệt thòi của các tuổi hợp. Nếu vợ chồng không cùng tam hợp thì hạn rải rác sẽ đỡ áp lực hơn. 

                Tuổi Thân Tí Thìn hành Thủy 
                Tuổi Dần Ngọ Tuất hành Hỏa 
                Tuổi Tỵ Dậu Sửu hành Kim 
                Tuổi Hợi Mão Mùi hành Mộc 

   + Các năm mà nhóm tam hợp gặp hạn tam tai :- 

- Các tuổi Thân, Tí, Thìn: Tam tai tại các năm : Dần, Mão, Thìn. 
- Các tuổi Dần, Ngọ, Tuất: Tam tai tại các năm : Thân, Dậu Tuất. 
- Các tuổi Hợi, Mão, Mùi: Tam tai tại những năm : Tỵ, Ngọ, Mùi. 
- Các tuổi Tỵ, Dậu, Sửu : Tam tai tại những năm : Hợi, Tý, Sửu. 

 2- Kim Lâu
Theo học thuyết chính tông.
Căn cứ đồ hình "Lạc thư", áp dụng câu: "Ngũ, thập nhập trung cung; Nhất, Tam, Lục, Bát: Kim lâu". Cụ thể là: lấy tuổi tròn 5 và tròn 10 dặt vào trung cung (ô chính giữa đồ hình Lạc thư). Nh
ng tuổi tròn chục khác (20. 30, 40,... tuổi) đặt vào các cung có mã số Quẻ tương đương: 20 tuổi tại cung số 2 (Khôn), 30 tuổi tại cúng số 3 (Chấn), 40 tuổi tại cung số 4 (Tốn), 50 tuổi tại cung số 5 (Trung cung và cũng là cung mang mã số "5"), 60 tuổi tại cung số 6 (Kiền), 70 tuổi tại cung số 7 (Đoài),...Sau đó, các tuổi lẻ từ 1 đến 9 lầ lượt đặt vào từng cung liền kề, tăng theo thứ tự cho đến tuổi cần xem. 

Có 4 loại Kim lâu:

Nếu rơi vào cung 1 (Khảm) là bị "Kim lâu Thân" – ảnh hưởng đến bản thân
vào cung 3 (Chấn) là bị "Kim lâu Thê" – ảnh hưởng đến vợ
rơi vào cung 6 (Kiền) là bị "Kim lâu Tử " – ảnh hưởng đến con cái
rơi vào cung 8 (Cấn) là bị "Kim lâu Súc" -ảnh hưởng đến gia súc


Bạn có thể áp dụng một cách đơn giản là tìm số dư khi chia chon 9 nếu số dư là 1,3,6,8 là kim lâu. 
Thông thường thì đối với nam giới thì năm kim lâu tránh làm nhà, đối với nữ giói thì không nên lấy chồng.

3- Hoàng Ốc
Là những năm: 12, 14, 15, 18, 21, 23, 24, 27, 29, 30, 32, 33, 36, 38, 39, 41, 42, 45, 47, 48 , 50, 51, 54, 56, 57, 60, 63, 65, 66, 69, 72, 74, 75.

Nếu cả ba yếu tố trên đều không bị phạm là tốt nhất, còn nếu phạm Tam Tai mà không phạm Kim Lâu, Hoàng Ốc thì cũng có thể chấp nhận được. Phạm vào Kim Lâu hoặc Hoàng Ốc thì tuyệt đối không nên tiến hành xây dựng, sửa chữa nhà cửa, mà nên đợi năm khác, hoặc tiến hành thủ tục mượn tuổi.



Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

Ngành nghề phù hợp với ngũ hành

Hành Mộc và nghề mộc
   - Lâm nghiệp, nông nghiệp, 
kiểm lâm
   - Sản xuất giấy, làm vườn
   - Trang trí thiết kế nội thất
   - Tiệm bán bàn ghế, tủ giường
   - Kinh doanh các mặt hàng gỗ, giấy, hoa, cây cảnh,
   - Kinh doanh vật phẩm tế lễ hoặc hương liệu.
   - Cho vay tín dụng, luật,…tài chính, ngân hàng, vải, nội thất gỗ, nhựa, giấy…
   - Nghề thuốc đông y

Hành Ho và nghề thuộc hoả
   - Cây xăng hay những cơ sở k nghệ
   - Nấu ăn, đầu bếp, chế biến thức ăn
   - Các ngành nghề điện quang, thợ ảnh, hàn xì, nấu nướng, , luyện kim, hoá trang, diễn viên, văn phòng phẩm.
  - Cảnh sát, lính cứu hoả.
  - Thầy cúng

Hành Th và các nghề thuộc thổ
   - Công ty Địa Ốc mua bán nhà đất, kinh doanh bất động sản
   - Kiến trúc sư hay nhà thầu xây dựng
   - Nông nghiệp, chăn nuôi gia súc gia cầm. 
   - Các ngành khai thác khoáng sản, vải vóc may mặc. 
   - Kinh doanh nông sản, trung gian môi giới, luật sư, cố vấn.
   - Vật liệu xây dựng, gốm sứ, thủy tinh, đá quý, sản xuất thủy tinh, pha lê.
   - Kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu.
   - Thầy giáo

Hành Kim và các nghề thuộc kim
   - Tiệm vàng và nữ trang, kim hoàn
   - Khai thác mỏ, kỹ thuật, lắp ráp xe hơi
   - Nghề cơ khí, cơ điện, cửa sắt.
   - Làm giám sát, quản lý, ngành võ.
   - Khai thác lâm sản.
   - Cơ điện lạnh, tủ lạnh, máy lạnh
   - Kinh doanh các loại nhà lắp ghép, lều du lịch
   - Bác sĩ phẫu thuật

Hành Thu và các nghề thuộc thu
   - Quán cà phê hay tiệm bán nước
   - Ngân hàng, bảo hiểm… 
   - Kinh doanh thuỷ sản, hải sản,  thủy lợi, đánh bắt cá, nước, dung dịch, muối.
  - Các ngành du lịch, hướng dẫn viên, diễn viên.
  - Kinh doanh dược liệu, thuốc men, thầy thuốc.
  - Nước giải khát, thức uống, hóa kỹ nghệ.
   - Giao thông vận tải, du lịch,  phương tiện truyền thông, giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe, giải trí
   - Nhà phân phối, sale, kinh doanh trực tuyến, xuất nhập khẩu, siêu thị, giặt ủi, thể thao, thủ quỹ.
   - Nguồn nhân lực, tư vấn chuyên nghiệp như luật sư, các dịch vụ cá nhân như dọn đồ, vệ sinh.
   - Kế toán

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Phần 5: Dụng Thần trong Bát Tự

  Như chúng ta đã biết trong dịch lý có câu "thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong" vạn vật trong trời đất đều thuận theo, thích ứng với mệnh trời mới có khả năng sanh tồn, nếu ngược lại thì vạn vật tất bị diệt vong. Xác định dụng thần là 1 bước quan trọng trong luận số mệnh, từ đó ta mới có thể tìm hiểu và phán đoán chính xác mệnh và vận số nhằm cân bằng mệnh cục , hóa giải hung sát, kích thích điểm hưng vượng của mệnh cục.
Trong mệnh lý học Tứ Trụ hay Tử Bình, việc căn bản trước tiên là :
- Xác định cách cục trong là số tứ trụ.
- Xác định mệnh thân vượng hay suy.
- Từ tiêu chí thông tin mệnh thân suy hay nhược, việc tiếp theo là xác định dụng thần.

1/ Các loại cách cục: như cách cục hóa khí của nhật chủ , tòng cường cách, tòng tài, tòng nhi,tòng sát, ngoại cách .v.v....

2/ Xác định mệnh thân vượng hay suy:
Được lệnh: can ngày vượng khi chi tháng rơi vào các cung: trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng gọi là được lệnh.
Đắc địa: Can ngày gặp được các chi còn lại trường sinh (can ngày phải dương), gặp lộc, kình dương (khí gốc của can tàng trong chi là tỷ hay kiếp) hoặc gặp mộ kho (can ngày dương gặp mộ kho là có gốc, can ngày âm vô khí gặp mộ kho là không có gốc)
Được sinh: Can ngày được chính ấn hay thiên ấn của các chi khác trong Tứ trụ tương sinh thì được gọi là được sinh.
Được trợ giúp: Can ngày và các can khác trong tứ trụ cùng loại gọi là ngang vai hay kiếp tài trợ giúp bản thân mình, như thế gọi là được trợ giúp.

3/ Xác định dụng thần
"Dụng thần thủ pháp", gồm có : Phù, Ức, Thông quan, Điều hậu, Bịnh dược.
Trong khoa Tử Bình cái khó nhất là tìm dụng thần hay gọi là "Dụng Thần thủ pháp". Dụng Thần tức là những gì ẩn tàng trong tháng sinh. Nhật can phối hợp nguyệt lệnh mà thành thể tính; hợp với nhu yếu của thể tính là Dụng Thần. Cái khó nhất trong Mệnh Lý là 12 cách thủ đoán dụng thần: Đối với thập can phối hợp 12 tháng , cùng với mỗi tháng , mọi nhân nguyên dụng sự đều nhất nhất phân biệt và đưa thí dụ. Thủ dụng cũng có phương thức không ngoài lý do chế hoá sinh khắc, gôp lại có thể chia thành 5 loại trên. 

Thông quan thủ dụng pháp

Thông quan là ngoài Nhật chủ ra, lưỡng đầu đối trĩ (đối đầu với nhau), thế quan lực địch , khinh trọng thân sơ ngang nhau chẳng lẽ có chổ lấy có chổ bỏ, duy có cách quan thông cái khí của nó mới có thể là cái Dụng của ta được. Nghi kỵ cần thiết, tạm thời hoãn bàn không phải là không luận mà phải để ý đến cái khẩn cấp trước đã. 

Thương Quan , lưỡng đình dụng Tài . 
Mâu Dần - Canh Thân - Kỹ Sửu - Giáp Tý 

Thu thổ khí hàn nên dụng Bính hỏa không như Dần Thân lưỡng xung , Ấn bị Tài phá chẳng thể là Dụng . Canh kim là khí đương vượng của nguyệt lệnh thấu xuất thiên can Giáp mộc tọa Tý , lâm quan tại Dần và cùng Nhật chủ tương hợp . Quan Thương thế sức ngang ngữa chẳng thể lấy chẳng thể bỏ . Duy có thể dụng Nhâm thủy trong Thân , tiết kim khí để sinh Mộc , vận hành Thủy Mộc tối mỹ . Đây là lấy thu thổ làm Thể . Tài quan làm Dụng . Một ví dụ khác . 

Tài Ấn lưỡng đình dụng Quan. 
Kỹ Hợi - Bính Tý - Kỹ Tỵ - Canh Ngọ 

Kỷ thổ sinh ở trọng đông , thổ đóng băng cho nên đương nhiên dụng Bính . Tỵ Ngọ thành phương , Bính hỏa xuất can dương hòa đã tràn lan mặt đất . Nguyệt lịnh Tài tinh bĩnh lịnh . Hợi Tý thành phương , Tài vượng tổn Ấn . Duy chỉ có Hợi cung Giáp mộc, Quan tinh thông với khí Tài Ấn . 
Lấy đông thổ làm Thể . Quan ẩn là Dụng . 

Bịnh Dược thủ dụng pháp 

Bịnh Dược thủ dụng pháp (dược ở đây là thuốc) là một trong năm Dụng thần thủ pháp. Ngũ ngôn Độc Bộ có nói :

"Có bịnh mới là Quý , không tỗn chẳng là kỳ,
Trong cách mà khữ bịnh , tài lộc lưỡng tương trì".

Thần Phong diễn ra thành thuyết Bịnh Dược , sự thực ra là cái ý doanh hư tiêu trưởng phối hợp hỷ kỵ . Muốn thế tứ trụ cần phải trung hòa , Quý tiện há chỉ ở chổ bịnh dược. Cái ý của Độc bộ là nói : "Có bịnh chưa đủ là hại, được thuốc cứu không trở ngại cho cái quý của nó, há có phải thực sự lấy bịnh cho là Quý đâu".

Thái cường, thái nhược đều là bịnh, phù nó ức nó là dược. Tác dụng của phù ức đã luận rõ ở trên rồi. Đây chỉ nói cái Dụng của Bịnh và Dược.

Là nguyên cục có dụng thần thích hợp nhu yếu mà bị Can khác ức chế khiến cho nó thành bịnh. Chẳng thể dụng cái thần nhu yếu mà cần khử đi cái thần gây bịnh làm dụng thì nó làm được.

Như hạ Mộc hỷ Ấn, nguyên cục kiến Nhâm Quý cực hợp nhu yếu của hạ Mộc không như biệt can thấu Mậu. Cái Mậu thổ nầy là bịnh thần cho nên chẳng thể lấy Nhâm thủy làm dụng mà cần phải lấy Giáp Mộc có khả năng khử Mậu thổ làm dụng. Giáp mộc bèn là dược vậy. Có Giáp chế Mậu, Nhâm Quý mới hiển được cái công nhuận trạch.

Cách dược khữ bịnh nầy, nguyên cục có nó chung thân hoạch phúc. Đại vận có nó thì trọn vận đó thâu hoạch được lợi ích.

Như ví dụ 1 : 
Nhâm Tuất - Kỹ Dậu - Đinh Sửu - Giáp Thìn . 

Đinh hỏa chiêu dụng tuy sinh Dậu nguyệt chẳng lấy suy kiệt làm kỵ. Nguyên cục có Ấn tương sinh, nguyệt lịnh Tài vượng sinh Quan là mệnh phú Quý song toàn. Không như Kỷ thổ xuất xuất can hổn trọc Nhâm thủy. Chỉ có thể thủ Giáp mộc chế Kỷ làm dụng mà chẳng thể lấy Tài quan làm dụng. Tốt ở chổ cách vị bất hợp đủ để tương chế Sửu Dậu hội cục, phú trọng quý khinh.

Ví dụ 2: 
Mậu Tý - Nhâm Tuất - Giáp Dần - Canh Ngọ 

Thu mộc khô điêu , Dần Ngọ Tuất hội hỏa cục Mộc thành tro bay. Mộc khô hư, cần được Nhâm thủy phá hỏa cục khả dĩ mới phú Quý được. Không như Mậu thổ xuất can chế thủy là bịnh tất cần Giáp mộc tỷ kiên khữ Mậu làm cứu. Nguyên cục vô Tỷ gọi là hữu bịnh vô dược. Hành Tỷ Kiếp vận khá tốt. Quá về sau gặp nhiều trở trệ là vì nguyên cục bịnh trọng vô dược cho nên Dụng thần thụ chế.

Ví dụ 1: có thể hiểu nôm na là trường hợp điển hình dùng Ấn để bảo vệ Quan khỏi sự xâm hại của thương quan (Quan và Thương Quan cạnh trụ) 

Ví dụ 2: có thể hiểu là dùng Tỷ kiên bảo vệ Ấn khỏi sự xâm hại của Tài tinh (Tài và Ấn cạnh trụ) 

Phù ức nhật nguyên thủ dụng pháp 

I. Phù ức nhật nguyên thủ dụng pháp. 
Mệnh lý cần nhất là trung hòa mà trung hòa do ở "phù ức". Bất cập cần sinh phù, thái quá cần ức chế.

- Phù có 2 cách: ấn thụ để sinh, tỷ kiếp để trợ. 
- Ức cũng có 2 cách: quan sát để khắc, thực thương để tiết chế.

Nhật nguyên sao có lúc nên phù, lúc nên ức; nguyên do là do ở thể tính.

Xuân mộc, Hạ hỏa, Thu kim, Đông thủy, thể tính thái vượng, lấy quan sát để khắc, thực thương để tiết. Đó là lấy ức làm dụng.

Xuân kim, Hạ thủy, Thu mộc, Đông hỏa thể tính thái nhược, lấy ấn thụ để sinh, hoặc tỷ kiếp để trợ. Đó là lấy phù làm dụng. 

a/ Phù nhật nguyên thủ dụng pháp . 
Phù nhật nguyên không ngòai dụng Ấn, Kiếp, nhưng cái gì nên dụng Ấn, cái gì nên dụng Kiếp, cần phải xét kỹ. 

Thí dụ: 
Tài quan vượng, dụng Ấn. 
Đinh Hợi - Bính Ngọ - Nhâm Dần - Kỷ Dậu

Nhâm thủy sinh ở Ngọ nguyệt tính cực nhược, kiến thời chi Dậu kim, như tử đắc mẫu, chuyên dụng Ấn thụ sinh Thân, nhưng Dần Ngọ hội cục, Bính Đinh xuất Can, Tài vượng phá Ấn cho nên lấy Nhâm thủy trong Hợi để chế hỏa mới có thể hiểu được cái Dụng của Kim.

Tạo nầy là lấy hạ thủy làm thể, Ấn làm dụng. 
Tài vượng dụng Kiếp.

Ví dụ : 
Quý Dậu - Quý Hợi - Mậu Tý - Đinh Tỵ.

Mậu thổ sinh ở Hợi nguyệt, Tài tinh đương vượng, lưỡng Quý xuất Can, thủy vượng thổ đảng, Ấn bị Tài phá cho nên không thể dụng Ấn, chỉ có thể dụng Kiếp.

Tài vượng dụng Kiếp bèn là Phú cách.

Nguyên lý phú có nói : 
"Qui Lộc cách đắc tài thu họach được phúc, 
Không gặp tài mà qui lộc tất là bần"

Tạo nầy lấy đông thổ làm thể, tỵ lộc làm dụng . 

Điều hậu thủ dụng pháp 

Theo Điều hậu của Uyên Hải Tử Bình thì “Nhật Quý sinh tháng Tuất nên dùng Tân, Giáp, Nhâm, Quý. Kết luận nên dùng dụng thần Giáp là an toàn hơn cả. Hỷ thần Nhâm Quý.”

Là một trong 5 "Dụng thần thủ pháp. Điều hậu như thế nào ?

- Thổ sinh Kim, nhưng mùa hạ thổ táo, cần phải có thủy nhuận thổ mới sinh kim, 

- Kim sinh thủy mà thu đông hàn đống chi kim chẳng thể sinh thủy được cần được hỏa ôn kim mới sinh thủy.

- Mộc sinh hỏa, xuân mộc dương tráng, mộc hỏa tự phàn, cần có thủy nhuận căn bèn là mộc hỏa thông minh,

- Thủy sinh mộc , hàn đông băng đống chi thủy, thủy chẳng thể sinh mộc cần hỏa chiêu nõan mộc mới phu vinh. Về thể chất mà nói , hạ lệnh chẳng thể không có thủy, đông lệnh chẳng thể không có hỏa. Chẳng phải tương sinh mới là sinh, khắc tiết cũng là sinh, đó là điều Trích thiên tủy nói: "Nhi năng sinh mẫu".

Chỉ lúc cần điều hậu lấy điều hậu làm trọng, mấy cái khác tạm thời gác bỏ một bên, hoãn luận.

Ví dụ:
Quý Mão - Ất Sửu - Kỷ Hợi - Kỷ Tỵ 

Kỷ sinh sửu nguyệt băng đống trì đường, đống thủy , khô mộc. Cái gì có thể khắc Thổ được - có Tỵ cung Bính hỏa ám tàng không chỉ có công nõan thổ mà nhân đó là một điểm dương hỏa, tài quan mới có thể sinh; cho nên không dùng Bính hỏa chẳng thể được. Đông thổ kiến Bính hàn cốc hồi xuân. Điều hậu là cấp, Tài quan hoãn luận. 

tài liệu tham khảo từ tuvilyso.com /dinhvantan

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Phần 4:Thần sát của tứ trụ

Thực tế đã chứng minh có rất nhiều người thoát chết, hay thoát tai nạn một cách không thể hiểu được. Các trường hợp may mắn này lại hay gặp nhiều lần ở một người, trong khi đó nhiều người khác lại hầu như không gặp, thậm chí còn toàn gặp những điều rủi ro suốt cuộc đời. Tại sao lại như vậy? Điều này đã khẳng định rằng phải có một thế giới thần linh đang hiện hữu và tất nhiên phải có thần tốt (cát thần) và thần xấu (hung thần). Do vậy Họ đã xác định được các cát thần và hung thần này ở các can, chi trong tứ trụ của mỗi người. Nhưng theo phương pháp tính điểm hạn của tôi thì thần hộ mệnh vĩ đại nhất lại chính là tam hội trong tứ trụ (xem phần 2 của chương 16) .

I – Cát thần 

Các quý nhân có khả năng giải hạn 

1 – Thiên Ất quý nhân 
Cách tra là lấy can năm hoặc can ngày làm chủ để tìm các địa chi trong tứ trụ như sau :
Posted Image

Thiên Ất quý nhân là thần tốt nhất trong mệnh chủ về thông minh, trí tuệ, là thần gặp hung hóa cát..... Nếu hợp hóa thành hỷ, dụng thần là rất tốt, rất kỵ gặp hình, xung, khắc, hại, đất không vong, tử, mộ hay tuyệt.

2 – Thiên Đức - Nguyệt Đức 
Cách tra Thiên Đức và Nguyệt Đức là lấy chi tháng sinh làm chủ để tìm các thiên can hay địa chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Quý nhân Thiên Đức và Nguyệt Đức là cát tinh, tính tình nhân từ đôn hậu, cuộc đời phúc nhiều, ít gặp nguy hiểm, gặp hung hóa cát, hóa hiểm thành an.... như có thần linh hộ vệ. Nếu trong tứ trụ mà có cả Thiên, Nguyệt Đức thì người đó có năng lực gặp hung hóa cát rất mạnh, gặp phải hung thần cũng bớt xấu rất nhiều, nhưng gặp phải xung, khắc thì vô dụng.

3 - Đức, Tú quý nhân 
Cách tra Đức,Tú quý nhân lấy tháng sinh làm chủ để tìm các thiên can trong tứ trụ như sau:
a - Sinh các tháng Dần, Ngọ hay Tuất mà thấy Bính, Đinh là Đức quý nhân còn thấy Mậu, Kỷ là Tú quý nhân.
b - Sinh các tháng Thân, Tý hay Thìn mà thấy Nhâm, Quý, Mậu, Kỷ là Đức quý nhân còn thấy Bính, Tân, Giáp, Kỷ là Tú quý nhân.
c - Sinh các tháng, Tị, Dậu hay Sửu mà thấy Canh và Tân là Đức, còn thấy Ất và Canh là Tú.
d - Sinh các tháng Hợi, Mão hay Mùi mà thấy Giáp và Ất là Đức còn thấy Đinh và Nhâm là Tú. 

Đức, Tú quý nhân là cát thần, trong mệnh có nó là người thành thật, tinh thần sáng sủa, nghĩa hiệp thanh cao, tài hoa xuất chúng, nó có thể biến hung thành cát, nếu gặp thêm Học Đường quý nhân thì có tài và quan cao sang, nếu gặp xung khắc thì bị giảm yếu.

Ví dụ: Người sinh tháng Dần, Ngọ hay Tuất mà thấy Mậu hay Quý trong tứ trụ là có Tú quý nhân, có Bính hay Đinh là có thêm Đức quý nhân. Những cái khác cũng tra tương tự.

4 – Văn Xương quý nhân 
Cách tra lấy can năm hay can ngày làm chủ tìm các địa chi trong tứ trụ như sau: 
Posted Image

Văn Xương quý nhân có thể biến hung thành cát, là người khí chất thanh cao, văn chương giỏi, chủ về thông minh hơn người, ham học, ham hiểu biết, muốn vươn lên, cuộc đời lợi về đườnh học hành thi cử, tiến chức, không giao thiệp với kẻ tầm thường, nam gặp được thì nội tâm phong phú, nữ gặp được thì đoan trang.

Đến giờ tôi mới xác định được bốn quý nhân trên khi xuất hiện ở tuế vận và tiểu vận (nếu không bị hợp) là có thể giải được một phần hạn (vì nó có đìểm hạn âm), còn nếu chúng ở trong tứ trụ thì tôi vẫn chưa xác định được điểm hạn của chúng.

B - Các quý nhân chỉ phù hộ về tài và quan 

1 – Thái Cực quý nhân 
Cách tra lấy can năm hoặc can ngày làm chủ để tìm các địa chi trong tứ trụ như sau: 
Posted Image

Thái Cực quý nhân chủ về thông minh hiếu học, tính cách chính trực, nếu được sinh vượng (Thân vượng) thì ý chí hiên ngang, phúc thọ song toàn, nếu không phải quan cao trong triều thì cũng là người giầu sang giữa muôn dân.

2 - Lộc thiên can 
Lấy can ngày làm chủ để tìm các địa chi trong tứ trụ nhhư sau: 
Posted Image

Thần Lộc vượng không gặp phải hình, xung, khắc, phá là chủ về công danh thuận lợi. Thân vượng mà Lộc nhiều thì nên bị khắc hoặc cho xì hơi (sinh cho can khác), còn thân nhược mà Lộc nhiều lại không bị khắc (tức Lộc phù trợ cho Thân nên Thân có thể từ nhược thành vượng) đều là quý mệnh. Lộc kỵ bị xung, khắc (như Giáp Lộc ở Dần gặp Thân là bị phá... ) hoặc gặp Không Vong.

3 - Tướng Tinh 
Lấy chi năm hoặc chi ngày làm chủ để tìm các chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Tướng Tinh vừa chủ về võ vừa chủ về văn, có khả năng nắm quyền, được mọi người kính phục. Tướng Tinh đi với Mã Tinh, đi với Kình Dương là hỷ dụng thần, người như thế không phải là tướng soái cũng là cấp tương đương (lộc trọng quyền cao). 

4 - Trạch Mã 
Lấy chi năm hay chi ngày làm chủ để tìm các chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Trạch Mã có hung có cát. Trạch Mã là hỷ dụng thần, nhiều nhất là có tin mừng thăng quan, tiến chức, ít thì cũng được lợi trong sự hoạt động. Mã là kỵ thần, nhiều nhất là buôn ba lao khổ, ít thì vất vả bận rộn. Mã gặp xung (như Mã là Dần mà gặp Thân) như bị quất roi thì thường phải đi lại nhiều như làm trong các ngành giao thông, bưu điện, .... Mã bị hợp như là bị trói (tức khó mà đi đâu được). Mã Tinh là Thực, Thương gặp vận tài phát nhanh như mãnh hổ (điều này chỉ đúng khi Thân vượng hoặc vào vận Thân vượng).

5 – Kim Dư 
Cách tra lấy can ngày làm chủ để tìm các chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Kim là kim loại quý như vàng bạc, Dư là xe, vì vậy nó nghĩa là xe trở vàng, hay trở vua, quan đi lại. Người gặp nó thì có phúc đặc biệt, chủ về thông minh, phú quý, tính cách uyển chuyển ôn hòa, dáng người thanh thản. Ngày sinh, giờ sinh gặp được là rất đẹp. Cho nên phàm là người có phúc, nam gặp thì nhiều thê thiếp, anh em hòa thuận, con cháu đông đúc. Nữ gặp thì nhiều phú quý. Nếu còn gặp Mã thì không những lên xuống xe ngựa mà còn có nhiều người hầu hạ ra vào tấp lập, uy phong lừng lẫy.

6 – Kim Thần 
Kim Thần chỉ có ba nhóm Can Chi là Ất Sửu, Kỷ Tị và Quý Dậu (có sách cho rằng Kim thần chỉ có khi Nhật can là Canh hay Tân, sinh vào các tháng Canh Thân hoặc Tân Dậu và phải có tam hợp Tị Dậu Sửu hay tam hội Thân Dậu Tuất trong tứ trụ, nếu các tổ hợp này hóa được Kim cục thì cực tốt).
Nếu trụ ngày hay trụ giờ là một trong 3 tổ hợp của can chi trên là có Kim Thần. Kim không có hỏa không thể thành vũ khí, Kim Thần cần phải có hỏa để luyện, vì vậy Kim gặp hỏa thì sẽ phát. Hỏa có trong tứ trụ không đủ khả năng để phát mạnh mà phải gặp đại vận là hỏa thì mới phát mạnh, vì vậy mới có câu “Kim Thần gặp hỏa, uy trấn biên cương” hay “Kim Thần nhập hỏa, phú quý vanh xa”, nhất là hỏa lại là hỷ, dụng thần.
Kim Thần gặp Thủy (nhất là vào đại vận Thủy) thì tai họa đến ngay, đi lên phương Bắc là xấu, có thể gặp tai nạn rất nặng (theo tôi đều này chỉ đúng khi Thủy là kỵ thần). 

7 – Khôi Canh quý nhân 
Thần Khôi Canh chỉ có bốn tổ hợp can chi : Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất và Mậu Tuất. Khôi Canh chỉ có ở trụ ngày (có thể các trụ khác vẫn được xem là có Khôi Canh nhưng tác dụng của chúng yếu hơn). 
Người gặp Khôi Canh nếu suy (Thân nhược hay ở kỵ vận) thì nghèo đói rách nát, nếu vượng (Thân vượng hay ở vận hỷ dụng thần) thì giầu sang tuyệt trần. Khôi Canh hội tụ thì phát phúc phi thường, tính cách thông tuệ, văn chương nổi tiếng, nắm quyền thì thích sát phạt. Nhưng gặp Tài, Quan thì tai họa ập đến ngay, nếu tứ trụ có hình, sát thì còn nặng hơn. Người gặp Khôi Canh tuy có tài lãnh đạo, tiếng vang sức mạnh, thích quyền bính, hiếu thắng, nhưng hôn nhân thường không thuận, ngoài ra nếu không tôn trọng pháp luật thì khó tránh khỏi tù đầy.

8 – Tam Kỳ quý nhân 
Trong tứ trụ nó phải có đủ ba Can : Giáp, Mậu, Canh hay Ất, Bính, Đinh hoặc Nhâm, Quý, Tân. 
Phàm mệnh gặp Tam Kỳ, tinh thần người đó khác thường, hoài bão to lớn, biết rộng, nhiều tài năng. Người có thêm Thiên Ất quý nhân thì công danh siêu quần. Nếu có thêm Thiên Đức, Nguyệt Đức thì không bao giờ gặp tai họa. Nếu có thêm tam hợp hay tam hội nhập cục (hóa cục) thì đó là đại thần trong triều đình... 
Nhưng Tam Kỳ phải hội đủ 3 yếu tố sau:
a - Ðắc thời, đắc địa (tức được lệnh tháng, kỵ nhất là không được tử, mộ, tuyệt tại chi mà nó đóng và gặp không vong).
b - Có nhiều Quý thần giúp đỡ.
c - Tổ hợp của tứ trụ phải đẹp.
Còn nếu không đủ 3 yếu tố này thì chỉ là người bình thường, nếu ai còn gặp thêm không vong thì không cô độc cũng là kẻ vô gia cư lang bạt bốn phương.

9 - Từ Quán và Học Đường 
a - Học Đường (thường chủ về người có trình độ học vấn cao như đại học, tiến sĩ...).
Mệnh (tức nạp âm của trụ năm)
Mệnh Kim thấy Tị, Tân Tị là chính ngôi.
Mệnh Mộc thấy Hợi, Kỷ Hợi là chính ngôi.
Mệnh Thủy thấy Thân, Giáp Thân là chính ngôi.
Mệnh Thổ thấy Thân, Mậu Thân là chính ngôi.
Mệnh Hỏa thấy Dần, Bình Dần là chính ngôi.
b - Từ Quán (thường chủ về người làm trong nghành giáo dục như giáo sư, viện sĩ...).
Cách tra lấy can năm hay can ngày làm chủ tìm các tổ hợp Can Chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Từ Quán và Học Đường, chủ về tú khí phát sinh, thông minh khéo léo, văn chương nổi tiếng, cuộc đời giầu sang. Nên được sinh vượng, không nên bị khắc, hại, xung. Nếu có thêm Thiên Ất quý nhân hoặc các cát tinh phù hộ thì tốt, nếu không thì tài năng khó thi thố, ý chí bị bó buộc.

II – Hung thần 

A - Các hung thần có thể gây ra điểm hạn 

1 – Kình Dương 
Cách tra Kình Dương lấy Nhật can làm chủ xem Chi nào trong tứ trụ mà Nhật can ở trạng thái đế vượng thì Chi đó chính là Kình Dương (như Nhật can là Tân thì chi Thân nếu có trong tứ trụ thì nó là Kình Dương bởi vì Tân ở trạng thái đế vượng tại Thân).
Kình Dương có cát có hung nhưng phần nhiều chủ về hung. Trong đại vận người ta sợ nhất là gặp Kình Dương, nó chủ về sự trì trệ, tai họa, thương tật, của cải hao tán, .... và cũng chủ về những tội phạm pháp. Kình Dương kiêm ác sát thì tai họa vô cùng. Kình Dương không những sợ gặp Tuế quân mà còn sợ xung Tuế quân (thái tuế hay chi của lưu niên), cho nên nói “ Kình Dương xung Tuế quân là tai họa cực xấu “. Kình Dương tuy là sự cứng rắn nhưng nếu thân nhược gặp phải nó thì không thể cho là xấu, vì Kình Dương có công năng bảo vệ thân (tức là vì Chi cùng hành với Thân nên giúp cho thân bớt nhược). Phàm người có Lộc, cần phải có Kình Dương để bảo vệ, gặp Quan hay Sát và Ấn phải có Kình Dương mới tốt. Như thế gọi là “Quan Ấn tương trợ, nhờ có Kình Dương mới đem Lộc về“. Trong mệnh gặp Kình, Sát kiêm vượng thì càng thông đạt đến Ấn thụ (tức chức trọng và quyền cao), tức nhờ Kình Dương trợ uy mà đạt được. Cho nên có câu “gặp Sát mà không có Kình Dương thì không thành đạt, có Kình mà không có Sát thì không có uy, có cả Sát cả Kình thì lập công kiến hiệp, có thể thành tướng, soái“. Hay câu “Sát Ấn tương sinh còn có Kình Dương trợ giúp thì không gì là không quý hiển“. Nói chung người gặp Kình Dương nên làm việc thiện, kiềm chế mình, tôn trọng pháp luật .....thì tránh được điều xấu, giữ được an thân, nếu không thì suốt đời trắc trở.

2 - Kiếp Sát 
Cách tra lấy chi năm hay chi ngày là chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Kiếp Sát chủ về hung, về các tai họa bệnh tật, bị thương, hình pháp, trong tứ trụ không gặp là tốt nhất. Nếu nó là kỵ thần thì tính tình cường bạo, gian hoạt sảo trá, thường chuốc lấy tai họa. Nếu là hỷ, dụng thần thì là người hiếu học, cầu tiến bộ, ham lập nghiệp, công việc chuyên cần, quả đoán trong công việc, dễ thành công.

3 – Tai Sát 
Cách tra lấy chi năm làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau: 
Posted Image

Tai Sát sợ khắc, nếu gặp sinh lại tốt (?). Trong tứ trụ nếu gặp Tai Sát thì phúc ít họa nhiều. Sát chủ về máu me, chết chóc. Nếu Sát thuộc hành Thủy hay Hỏa phải đề phòng bỏng, cháy; thuộc Kim hay Mộc đề phòng bị đánh; thuộc Thổ phải đề phòng ôn dịch (dịch bệnh) hay đổ sập của các vật (như tường, nhà,...). Tai Sát khắc thân là xấu, nếu có thần phúc cứu trợ, phần nhiều có quyền lực, cũnh như Kiếp Sát gặp Quan tinh, Ấn thụ là tốt.

4 – Vong Thần 
Cách tra lấy chi năm hay chi ngày làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Vong Thần cát (tức tốt) thì sắc sảo uy lực, mưu lược, tính toán liệu việc như thần, binh cơ ứng biến, cuối cùng rồi sẽ thắng, nói năng hùng biện, tuổi trẻ tiến nhanh. Nói là tốt tức là chỉ khi Thân vượng, Vong Thần là hỷ, dụng thần (tức hành của nó là hỷ hay dụng thần). Nói là xấu tức Thân nhược, Vong thần là kỵ thần, là người ngông cuồng đảo điên, trắng đen thị phi lẫn lộn, lòng dạ hẹp hòi, đam mê tửu sắc, việc quan kiện tụng, phạm quân pháp. Mệnh (tứ trụ) đã có tuần Không Vong còn gặp Vong Thần thì họa không nhẹ, nghèo đói suốt đời (?).
Với phương pháp của tôi Vong Thần luôn luôn có điểm hạn dương (xấu).

5 – Nguyên Thần 
Cách tra lấy chi năm làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau: 
Với nam sinh các năm dương và nữ sinh các năm âm (dấu của can của năm sinh - tức trụ năm) là năm:
Posted Image

Với nam sinh các năm âm và nữ sinh các năm dương:
Posted Image

Mệnh gặp Nguyên thần thường tướng mạo xấu, thô cứng, giọng khàn đục, tính cách cũng vậy. Tuế Vận (lưu niên và đại vận) gặp Nguyên thần như cây gặp gió, bị xô lắc đảo điên, không được bình yên, không có bệnh trong thì gặp nạn ngoài, tuy có phú quý cao sang nhưng không thịnh. Đại vận gặp Nguyên thần thì cả 10 năm đáng sợ, không yên ổn, cửa nhà lận đận, nếu có cát thần phù hộ thì mới đỡ phần nào .
Nguyên Thần tuy xấu, lưu niên đại vận gặp là không tốt, nhưng biết được điều xấu, tránh xa phương của Nguyên Thần (phương mang hành của Nguyên thần) thì có thể vô hại.

6 - Cấu và Giảo 
Cách tra lấy chi năm làm chủ. 
Với nam sinh các năm dương và nữ sinh các năm âm thì xem trong tứ trụ có ngôi thứ ba sau mệnh (chi của trụ năm - năm sinh và tính theo theo bảng 60 năm Giáp Tý) là Cấu ngôi thứ ba trước mệnh là Giảo. 
Với nam sinh các năm âm, nữ sinh các năm dương thì ngôi thứ ba sau mệnh là Giảo, ngôi thứ ba trước mệnh là Cấu.

Ví dụ: 
Nếu nam sinh năm Canh Ngọ (nó là năm dương bởi vì can năm của nó là Canh là can dương) thì ngôi thứ ba sau năm Ngọ (mệnh) là Dậu tức là Cấu, ngôi thứ ba trước Ngọ là Mão tức là Giảo. 
Nữ sinh năm dương là Canh Ngọ (1990) thì ngôi thứ ba sau Ngọ là Dậu tức là Giảo còn ngôi thứ ba trước Ngọ là Mão tức là Cấu. 
Những cái khác tính tương tự.
Mệnh gặp hai sát đó thân thường bị sát khắc, nhưng có nhiều cơ mưu, chủ về nắm các việc hình phạt hay sát phạt hoặc là tướng soái. Năm hành đến đó thường gặp chuyện cãi cọ, hình phạt. Cả hai cùng gặp càng nặng, đi với sát càng nặng. Trụ ngày và tuế vận nhất là thái tuế cùng gặp Cấu hay Giảo là chủ về tai nạn nát thân.

7 – Không Vong 
Nếu trụ ngày trong tứ trụ là Giáp Tý thì nó được gọi là Tuần Giáp Tý, nó có nghĩa là ở đây mỗi Tuần chỉ có 10 ngày tính từ trụ ngày Giáp Tý theo chiều thuận của bảng nạp âm là Giáp Tý (1), Ất Sửu (2), Bính Dần (3), Đinh Mão (4), Mậu Thìn (5), Kỷ Tị (6), Canh Ngọ (7), Tân Mùi (8), Nhâm Thân (9) và Quý Dậu (10), nó không có ngày Giáp Tuất (11) và Ất Hợi (12), cho nên các chi Tuất và Hợi được gọi là Không Vong của trụ ngày Giáp Tý bởi vì trong Tuần Giáp Tý không có các chi là Tuất và Hợi.
Cách tra Không Vong là lấy trụ ngày trong tứ trụ làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau: 
Posted Image

Sát của tuần Không Vong có cát có hung. Nếu tứ trụ có hung tinh, ác sát thì đó là đất tụ hội của tai họa, đều cần có Không Vong giải cứu. Nếu là đất Lộc, Mã, Tài, Quan thì đó là nơi phúc tụ, không nên gặp Không Vong vì sẽ bị nó làm cho tiêu tan. 

8 – Thiên la và địa võng 
Thìn của trụ năm hay trụ ngày gặp Tị hay Tị của trụ năm hay trụ ngày gặp Thìn trong tứ trụ là Thiên La.
Tuất của trụ năm hay trụ ngày gặp Hợi hay Hợi của trụ năm hay trụ ngày gặp Tuất trong tứ trụ là Địa Võng.

Cách tra lấy chi năm hay chi ngày làm chủ tìm các chi trong tứ trụ như sau:
Posted Image

Thiên la và địa võng là hung thần ác sát, là một trong những tiêu chí lao tù. Nếu trong tứ trụ có Thiên la hay Địa võng còn thêm tam hình thì khi gặp tuế vận khó tránh khỏi tù đầy. 
Nếu trong tứ trụ có thiên la hay địa võng thì nó chỉ có thể gây ra điểm hạn khi nó gặp lưu niên.

9 - Tứ phế
Posted Image

Qua đây ta thấy trụ ngày mà can và chi của nó có hành giống nhau (trừ hành Thổ) và sinh vào các tháng thuộc mùa có hành xung khắc với nó thì nó là Tứ Phế.
Tứ Phế chủ về thân yếu (?), nhiều bệnh, không có năng lực (?) nếu không gặp sinh, phù trợ mà còn bị khắc, hại, hung sát áp chế thì chủ về thương tật tàn phế, kiện tụng cửa quan, thậm chí bị giam, hoặc là người theo tăng đạo. Cho nên trong tứ trụ, cho dù là năm tháng ngày giờ gặp phải đều không tốt, nhất là trụ ngày. 

A - Các hung thần chưa xác định được điểm hạn 

1 - Thập ác-đại bại 
Cách tra nếu ngày sinh là một trong các các tổ hợp can chi sau đây là có Thập ác đại bại 
Giáp Thìn, Ất Tỵ, Nhâm Thân, Bính Thân, Đinh Hợi, Canh Thìn, Mậu Tuất, Quý Hợi, Tân Tị, Kỷ Sửu.
Thập ác như là người phạm mười trọng tội trong luật pháp, không được ân xá hay giảm. Đại bại là như trong luật nhà binh giao tranh thất bại, chết không sót một ai, nghĩa là rất nặng nề. Ngày Thập ác đại bại là ngày hung, cổ xưa giao chiến rất kiêng kỵ. Ngay nay nó thường được dùng để kiêng kỵ khi xuất hành, khởi sự công việc hay hỷ sự. 
Ngày Thập ác đại bại là “Kho vàng bạc hóa thành cát bụi“, nếu gặp cát thần phù trợ, quý khí trợ giúp thì còn tốt, nếu gặp Thiên đức, Nguyệt đức thì không còn là điều kiêng kỵ nữa, nếu gặp sao Tài sao Quan ngược lại là phúc. Năm can chi và ngày can chi xung khắc nhau lại là gặp cát thần quý nhân giúp đỡ.

2 – Âm Dương sai lệch 
Cách tra lấy trụ ngày làm chủ tìm các tổ hợp can chi trong tứ trụ như sau:
Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi .
Âm Dương sai lệch là thông tin về hôn nhân không thuận dễ dẫn đến vợ chồng bất hòa, ly hôn, nặng thì người phối hôn dễ bị bệnh tật. Bất kể là nam hay nữ, tháng, ngày, giờ mà có hai cái hay ba cái trùng nhau là rất nặng.
(Riêng hung thần này chỉ gây ra điểm hạn cho người phối hôn.)

3 – Hàm Trì (hay Đào Hoa) 
Posted Image

Hàm Trì chủ về sự đòi hỏi sinh lý khá cao nhưng phàm người có Hàm Trì thì thường khéo tay, phong lưu, đẹp, tính nóng nhưng giỏi nhiều nghề, phần nhiều là nghệ nhân. Sự hiểu biết, linh lợi, thông minh,... chính là nguồn tiến bộ của văn hóa, nghệ thuật.... Có rất nhiều bậc quan quý cao sang, thương gia giầu có, nhiều nghệ sĩ và nhà khoa học, danh nhân tướng soái đều có Hàm Trì. Nhưng khi tổ hợp trong tứ trụ không tốt là chủ về sự phong lưu trăng gió, quan hệ mờ ám giữa nam nữ. Với nữ, nếu trong tứ trụ không có Quan hay Sát, nhất là Quan hoặc có cả Quan và Sát mà :
a - Có cả sao Hàm Trì và Hồng Diễm.
b - Sao Hàm Trì hợp với cung phối hôn (chi trụ ngày) hóa cục có hành sinh cho Nhật Can.
c - Sao Hàm Trì và Hồng diễm cùng trụ.
d - Sao Hàm Trì ở trụ giờ.
Thì những người này phần nhiều làm nghề mãi dâm (nếu trong tứ trụ có 2 hay 3 trong 4 thông tin này). 

4 - Hồng Diễm
Cách tra sao Hồng Diễm là lấy can ngày hay can năm làm chủ tìm trong tứ trụ gặp những chi sau là có Hồng Diễm: 
Posted Image

Sao Hồng Diễm đại diện cho người có khả năng hấp dẫn, lôi cuốn những người khác giới tính bởi tính tình cởi mở hay có thân thể quyến rũ....của họ. Nếu nữ mệnh gặp phải Hồng Diễm mà nó không bị xung hay hợp thì rất xấu (?), nhất là có thêm sao Hàm Tri (Đào Hoa). 

Bảng tra thần sát theo địa chi 

Posted Image

Bảng tra thần sát theo thiên can 
Posted Image

Chỉ có các cát thần và hung thần có trong 2 bảng trên khi xuất hiện trên tuế vận và tiểu vận mới có khả năng gây ra hạn hoặc giải được hạn (trừ âm dương sai lệch).
Vì mục đích của cuốn sách này là phương pháp tìm các điểm hạn nên ở đây chỉ lập các bảng tra các thần sát có khả năng gây ra điểm hạn, còn các thần sát khác bạn đọc tự lập lấy bảng để tra.