Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

chữ tâm

  Nghĩa chữ tâm:

Tâm có hai chữ Hán là 心 và 芯 [1] ở đây là chữ 心, chữ tâm 心 là chữ tượng hình, viết kiểu tiểu triện có hình trái tim, còn viết kiểu khải thư 心 thì ở trên có ba dấu tượng trưng ba cái cuống, ở dưới là túi chứa máu. Chữ này diễn biến qua các cách viết như sau:

 

Chữ tâm (心) có rất nhiều nghĩa:

1.1. Nghĩa thông thường: (dt.) (1) Tim (heart): tâm tạng (quả tim), tâm thất (ngăn bên dưới trong trái tim). (2) Lòng, dạ, ruột, phần bên trong (inner): tâm phúc (bụng dạ); không tâm thái (rau rỗng ruột, tức rau muống). (3) Lòng, tình cảm con người (inner emotion): tâm cảm (inner feelings), tâm phục (thật lòng kính trọng vâng theo); tâm ý (lòng dạ và đầu óc); đồng tâm nhất trí (cùng một lòng, một ý). (4) Giữa (center), điểm ở giữa, quy tụ các điểm khác, thường nói về phần giữa đều gọi là tâm: viên tâm (điểm giữa vòng tròn), trọng tâm, trung tâm. (5) Tên một ngôi sao trong Nhị thập bát tú, sao Tâm, tức sao Hoả. (6) Tên một bộ chữ Hán, bộ Tâm, cũng viết là忄, khi đứng bên trái.

1.2. Nghĩa tâm lý và đạo đức: Ngày xưa, người ta ngộ nhận tâm là nguồn gốc của mọi sinh hoạt tâm lý, nên các tình trạng tư tưởng và tình cảm đều gọi là tâm: tâm tưởng (thinking); tâm tính (mood), tâm ý (idea). Ngày nay, theo các thí nghiệm tâm sinh lý, điều đó không đúng nữa. Dầu vậy, tâm vẫn còn được coi là: (1) Tượng trưng của tình cảm, tình yêu (love): ♥. (2) Khả năng nhận thức sự vật, suy nghĩ và cảm giác: tâm trí (mind). (3) Khả năng phán đoán về thiện ác theo quy luật đạo đức: lương tâm (conscience). (4) Toàn bộ các hiện tượng tâm lý, từ cảm giác đến tình cảm, hành vi, ý chí...: tâm lý (psychic), tâm trạng (mental = tâm thần). (5) Phần linh thiêng nơi con người, đối lập với thân xác: tâm hồn (spirit, soul = linh hồn); tâm linh (spiritual).

2. Tâm trong Phật giáo

Khái niệm “tâm” của Phật Giáo không đơn giản như các học giả phương Tây lầm tưởng. Tâm được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật Giáo. Kinh Pháp Cú, vốn được xem như Kinh Thánh của Phật Giáo mở đầu như sau:“Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả”. Một cách khái quát, qua các kinh điển Phật Giáo [2] người ta có thể phân biệt sáu loại tâm:

2.1. Nhục đoàn tâm (肉團心): trái tim thịt (Phật Giáo không để ý nhiều tới nghĩa này). Ví dụ: “Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời dèm pha phá huỷ Phật giái, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình” (Bồ Tát Giái Kinh).

2.2. Tinh yếu tâm (精要心): chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ. Ví dụ: “Phật pháp lấy tâm làm gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn” (Long Thọ Bồ Tát).

2.3. Kiên thực tâm (堅實心): là cái tâm không hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tuyệt đối, cái mầm mống giác ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính:"Căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Căn bản của bồ đề niết bàn là chân tâm"(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

2.4. Liễu biệt tâm (了別心): gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức [4], tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an”.

2.5. Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識): thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức và không ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)

2.6. Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch nghĩa là tạng thức (藏識): chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất thiết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm).

Phật Giáo không quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm linh hồn. Theo Ngũ uẩn, tâm không phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, mà là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là căn bản cho sự tái sinh. Theo Vi Diệu pháp, tâm không phải là một cá thể, mà là một dòng tâm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Khi con người còn sống thì dòng tâm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu không có một tâm nào khác khởi lên. Khi chết, dòng tâm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tâm thức đầu tiên của kiếp sau. Duy Thức học khai triển thêm tâm thức là cái biết, căn bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử ... Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tâm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, không sinh diệt, không dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã giác ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.

Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2023

VẬT PHẨM PHONG THỦY - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

  • Chúng ta đều biết các vật phẩm phong thủy đều có các năng lượng khác nhau mà từ đó hóa giải hay thúc vượng một khu vực khí trường cụ thể. Vì thế khi sử dụng các vật phẩm phong thủy để chiêu Tài hay hóa Sát trong nhà, chúng ta cần chú ý các vấn đề về năng lượng như sau:


  • Vật phẩm có chất liệu đá – hành Thổ: Nên sử dụng các vật phẩm có chất liệu như Thạch Anh, Mã Não, Cẩm Thạch, … ( năng lượng tùy thuộc chất lượng đá); không nên sử dụng các vật phẩm làm từ bột đá, composit, nhựa.
  • Vật phẩm có chất liệu kim loại – hành Kim: Nên sử dụng các vật phẩm có chất liệu Vàng – Bạc – Đồng (càng tinh chất , càng nhiều năng lượng); không nên sử dụng các vật phẩm có nhiều Kẽm – Chì – Nhôm.
  • Vật phẩm có chất liệu là nước – hành Thủy: Nên sử dụng nước giếng khoan nếu ở vị trí có nước sạch; nếu là nước ở hệ thống nước công cộng thì nên để lắng lọc trong 12 giờ; tốt nhất là dùng nước suối hay nước tinh khiết trong các  trường hợp dùng thủy để

    hóa giải hay thúc vượng khí.
  • Vật phẩm có chất liệu là cây, hoa – hành Mộc: Nên sử dụng các chậu, bình cây tươi, không để cây bị héo, chết; vật phẩm từ gỗ, nên dùng các loại gỗ quý, lâu năm như: Giáng hương, Dâu, Trắc, Gõ, Cẩm, Thủy Tùng …; không nên sử dụng hoa khô nhất là trong phòng ngủ vì có nhiều âm khí, hoa giả cũng hạn chế sử dụng vì để lâu ngày sẽ nhiều thổ khí.
  • Vật phẩm có chất liệu như mùi hương – hành Hỏa: Nên sử dụng các loại hương, nhang, tinh dầu có mùi dịu nhẹ( phù hợp không gian và cảm xúc của gia chủ) với chất liệu tinh dầu thiên nhiên là tốt nhất, không nên dùng loại có nhiều hóa chất gây mùi nặng; cần phải thông thoáng khí trong nhà, không nên để có nhiều mùi từ bếp hay nhà vệ sinh lan tỏa trong nhà.

  Vật phẩm PT cần phải dương hóa và tăng cường năng lượng bằng khai quang trước khi sử dụng

Dũng Nguyễn







Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

CÁC VỊ THẦN HÓA THÂN CỦA PHẬT HỘ MẠNG CHO 12 CON GIÁP

Phạt Chiết La là hóa thân của Đại Thế Chí, là thần hộ mạng tuổi Tuất.

Chiêu Đổ La là hóa thân của Kim Cang Thủ, là thần hộ mạng tuổi Sửu.

Tỳ Yết La là hóa thân của Phật Thích Ca, là thần hộ mạng tuổi Tý

Nhân Đạt La là hóa thân của Địa Tạng Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Tỵ.

San Để La là hóa thân của Hư Không Tạng, là thần hộ mạng tuổi Ngọ

Mê Súy La là hóa thân của Phật Di Đà, là thần hộ mạng tuổi Dậu.

Ma Hổ La là hóa thân của Phật Dược Sư, là thần hộ mạng tuổi Mão.

Cung Tỳ La là hóa thân của Di Lặc Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Hợi.

Ba Di La là hóa thân của Văn Thù Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Thìn.

Át Nể La là hóa thân của Ma Lợi Chi, là thần hộ mạng tuổi Mùi.

An Để La là hóa thân của Quán Thế Âm, là thần hộ mạng tuổi Thân.

HÌNH CÁC VỊ THẦN LÀ HÓA THÂN CỦA PHẬT HỘ MẠNG CHO 12 CON GIÁP
Chư Phật và Bồ Tát vì lòng từ bi thương chúng sanh, nên sau khi thành đạo bằng thần thông và nguyện lực các Ngài có thể ứng thân thị hiện muôn hình muôn vẻ, thiết lập cảnh giới để hóa độ vô lượng chúng sanh, tùy theo nghiệp lực căn tánh của chúng sanh mà các Ngài thuyết pháp dìu dắt muôn loài tu tập giải thoát. Mười hai vị Thần Tướng Dược Xoa là một trong những cách thị hiện của chư Phật, Bồ tát.
Dược Xoa cũng dịch là Dạ Xoa, ở đây chính là chỉ cho những vị thiện Dạ Xoa có lòng nhiệt thành hộ pháp. 12 vị Dược Xoa này ở cung trời Tỳ Sa Môn Thiên Vương thống nhiếp và lãnh đạo rất nhiều bộ chúng, vì vậy nên còn gọi là Đại Tướng, quyến thuộc rất đông tổng cộng đến 8 vạn 4 ngàn người. 12 Đại Tướng Dược Xoa cũng tượng trưng cho 12 hạnh nguyện của Đức Phật Dược Sư. Cũng chính là hóa thân của Phật Dược Sư hiện tướng Dược Xoa để hàng phục tâm cang cường của chúng sanh, phá trừ những tà ma ngoại đạo.
Mười hai vị Thần Tướng còn có tên gọi là Thập Nhị Dược Xoa, là những vị Thần Hộ Pháp Hộ trì những hành giả tu tập Dược Sư Pháp. Dược Xoa cũng chính là Kim Cang lực sĩ, được phân làm Thiên Hành Dược Xoa, Không Hành Dược Xoa, Địa Hành Dược Xoa. Các thần tướng Dược Xoa được dịch là Dũng Kiện, tức là hiển thị sức mạnh dũng cảm, không bị điều gì tồi phục được, mà còn có thể tồi phục tất cả. Các Ngài còn được gọi là Tật Tiệp, vì ba loại Dược Xoa đều hiển thị được oai đức tự tại, qua lại rất nhanh trong cõi người và cõi trời, mạnh nhanh như gió, do đó mà có tên là Tật Tiệp.
Bất luận là Đại Thừa hay Tiểu Thừa Phật Giáo, Hộ Thế Tứ Đại Thiên Vương, thần chúng Dược Xoa đều là những vị Hộ Pháp quan trọng trong Phật Giáo, các ngài có đầy đủ những thiện nguyện. Các Thần Tướng Dược Xoa có thệ nguyện rất sâu rộng để hộ trì Phật Pháp.
12 Thần Tướng Dược Xoa có tên gọi như sau:
1. Cung Tỳ La: còn gọi là Kim Tỳ La, được dịch ý là Cực Úy. Thân màu vàng, tay cầm bảo xử.
2. Phạt Chiết La: còn gọi là Bạt Chiết La, Hòa Kỳ La, dịch ý là Kim Cang. Thân màu Trắng, tay cầm bảo kiếm.
3. Mê Súy La: còn gọi là Di Khư La, dịch ý là Chấp Nghiêm. Thân màu vàng, tay cầm bảo bổng hoặc độc cổ.
4. An Để La: còn gọi là Át Nể La, An Nại La, An Đà La, dịch ý là Chấp Tinh. Thân màu xanh lục, tay cầm bảo chùy hoặc bảo châu.
5. Át Nể La: còn gọi là Mạt Nể La, Ma Ni La, dịch ý là Chấp Phong. Thân màu đỏ, tay cầm bảo xoa hoặc mũi tên.
6. San Để La: còn gọi là Bà Nể La, Tố Lam La, dịch ý là Cư Ngoại. Thân màu khói Lam, tay cầm bảo kiếm hoặc loa bối.
7. Nhân Đạt La: còn gọi là Nhân Đà La, dịch ý là Chấp Lực. Thân màu Đỏ, tay cầm bảo côn hoặc mâu.
8. Ba Di La: còn gọi là Bà Da La, dịch ý là Chấp Ẩm. Thân màu đỏ, tay cầm bảo chùy hoặc cung tên.
9. Ma Hổ La: còn gọi là Bạc Hô La, Ma Hưu La, dịch ý là Chấp Ngôn. Thân màu trắng, tay cầm rìu báu.
10. Chân Đạt La: còn gọi là Châu Đổ La, Chiếu Đầu La, dịch ý là Chấp Tưởng. Thân màu vàng, tay cầm quyên sách hoặc bảo bổng.
11. Chiêu Đổ La: còn gọi là Chu Đổ La, Chiếu Đầu La, dịch ý là Chấp Động. Thân màu xanh, tay cầm bảo chùy.
12. Tỳ Yết La: còn gọi là Tỳ Già La, dịch ý là Viên Tác. Thân màu đỏ, tay cầm bảo luân hoặc tam cổ.
Còn có thuyết cho rằng 12 vị Thần Tướng ứng với 12 giờ trong ngày, trong 4 mùa ứng với 12 tháng, luân chuyển hộ trì chúng sanh, nếu lấy 12 chi (12 con giáp) phối với 12 vị Thần Tướng thì mỗi vị là bổn mạng của mỗi con giáp.
Cung Tỳ La là hóa thân của Di Lặc Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Hợi.
Phạt Chiết La là hóa thân của Đại Thế Chí, là thần hộ mạng tuổi Tuất.
Mê Súy La là hóa thân của Phật Di Đà, là thần hộ mạng tuổi Dậu.
An Để La là hóa thân của Quán Thế Âm, là thần hộ mạng tuổi Thân.
Át Nể La là hóa thân của Ma Lợi Chi, là thần hộ mạng tuổi Mùi.
San Để La là hóa thân của Hư Không Tạng, là thần hộ mạng tuổi Ngọ
Nhân Đạt La là hóa thân của Địa Tạng Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Tỵ.
Ba Di La là hóa thân của Văn Thù Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Thìn.
Ma Hổ La là hóa thân của Phật Dược Sư, là thần hộ mạng tuổi Mão.
Chân Đạt La là hóa thân của Phổ Hiền Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Dần.
Chiêu Đổ La là hóa thân của Kim Cang Thủ, là thần hộ mạng tuổi Sửu.

Tỳ Yết La là hóa thân của Phật Thích Ca, là thần hộ mạng tuổi Tý.

Thông tin này là của bạn : TienThinhNG & damquangvinh FROMhttp://www.thegioivohinh.com