Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

CÁC VỊ THẦN HÓA THÂN CỦA PHẬT HỘ MẠNG CHO 12 CON GIÁP

Phạt Chiết La là hóa thân của Đại Thế Chí, là thần hộ mạng tuổi Tuất.

Chiêu Đổ La là hóa thân của Kim Cang Thủ, là thần hộ mạng tuổi Sửu.

Tỳ Yết La là hóa thân của Phật Thích Ca, là thần hộ mạng tuổi Tý

Nhân Đạt La là hóa thân của Địa Tạng Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Tỵ.

San Để La là hóa thân của Hư Không Tạng, là thần hộ mạng tuổi Ngọ

Mê Súy La là hóa thân của Phật Di Đà, là thần hộ mạng tuổi Dậu.

Ma Hổ La là hóa thân của Phật Dược Sư, là thần hộ mạng tuổi Mão.

Cung Tỳ La là hóa thân của Di Lặc Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Hợi.

Ba Di La là hóa thân của Văn Thù Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Thìn.

Át Nể La là hóa thân của Ma Lợi Chi, là thần hộ mạng tuổi Mùi.

An Để La là hóa thân của Quán Thế Âm, là thần hộ mạng tuổi Thân.

HÌNH CÁC VỊ THẦN LÀ HÓA THÂN CỦA PHẬT HỘ MẠNG CHO 12 CON GIÁP
Chư Phật và Bồ Tát vì lòng từ bi thương chúng sanh, nên sau khi thành đạo bằng thần thông và nguyện lực các Ngài có thể ứng thân thị hiện muôn hình muôn vẻ, thiết lập cảnh giới để hóa độ vô lượng chúng sanh, tùy theo nghiệp lực căn tánh của chúng sanh mà các Ngài thuyết pháp dìu dắt muôn loài tu tập giải thoát. Mười hai vị Thần Tướng Dược Xoa là một trong những cách thị hiện của chư Phật, Bồ tát.
Dược Xoa cũng dịch là Dạ Xoa, ở đây chính là chỉ cho những vị thiện Dạ Xoa có lòng nhiệt thành hộ pháp. 12 vị Dược Xoa này ở cung trời Tỳ Sa Môn Thiên Vương thống nhiếp và lãnh đạo rất nhiều bộ chúng, vì vậy nên còn gọi là Đại Tướng, quyến thuộc rất đông tổng cộng đến 8 vạn 4 ngàn người. 12 Đại Tướng Dược Xoa cũng tượng trưng cho 12 hạnh nguyện của Đức Phật Dược Sư. Cũng chính là hóa thân của Phật Dược Sư hiện tướng Dược Xoa để hàng phục tâm cang cường của chúng sanh, phá trừ những tà ma ngoại đạo.
Mười hai vị Thần Tướng còn có tên gọi là Thập Nhị Dược Xoa, là những vị Thần Hộ Pháp Hộ trì những hành giả tu tập Dược Sư Pháp. Dược Xoa cũng chính là Kim Cang lực sĩ, được phân làm Thiên Hành Dược Xoa, Không Hành Dược Xoa, Địa Hành Dược Xoa. Các thần tướng Dược Xoa được dịch là Dũng Kiện, tức là hiển thị sức mạnh dũng cảm, không bị điều gì tồi phục được, mà còn có thể tồi phục tất cả. Các Ngài còn được gọi là Tật Tiệp, vì ba loại Dược Xoa đều hiển thị được oai đức tự tại, qua lại rất nhanh trong cõi người và cõi trời, mạnh nhanh như gió, do đó mà có tên là Tật Tiệp.
Bất luận là Đại Thừa hay Tiểu Thừa Phật Giáo, Hộ Thế Tứ Đại Thiên Vương, thần chúng Dược Xoa đều là những vị Hộ Pháp quan trọng trong Phật Giáo, các ngài có đầy đủ những thiện nguyện. Các Thần Tướng Dược Xoa có thệ nguyện rất sâu rộng để hộ trì Phật Pháp.
12 Thần Tướng Dược Xoa có tên gọi như sau:
1. Cung Tỳ La: còn gọi là Kim Tỳ La, được dịch ý là Cực Úy. Thân màu vàng, tay cầm bảo xử.
2. Phạt Chiết La: còn gọi là Bạt Chiết La, Hòa Kỳ La, dịch ý là Kim Cang. Thân màu Trắng, tay cầm bảo kiếm.
3. Mê Súy La: còn gọi là Di Khư La, dịch ý là Chấp Nghiêm. Thân màu vàng, tay cầm bảo bổng hoặc độc cổ.
4. An Để La: còn gọi là Át Nể La, An Nại La, An Đà La, dịch ý là Chấp Tinh. Thân màu xanh lục, tay cầm bảo chùy hoặc bảo châu.
5. Át Nể La: còn gọi là Mạt Nể La, Ma Ni La, dịch ý là Chấp Phong. Thân màu đỏ, tay cầm bảo xoa hoặc mũi tên.
6. San Để La: còn gọi là Bà Nể La, Tố Lam La, dịch ý là Cư Ngoại. Thân màu khói Lam, tay cầm bảo kiếm hoặc loa bối.
7. Nhân Đạt La: còn gọi là Nhân Đà La, dịch ý là Chấp Lực. Thân màu Đỏ, tay cầm bảo côn hoặc mâu.
8. Ba Di La: còn gọi là Bà Da La, dịch ý là Chấp Ẩm. Thân màu đỏ, tay cầm bảo chùy hoặc cung tên.
9. Ma Hổ La: còn gọi là Bạc Hô La, Ma Hưu La, dịch ý là Chấp Ngôn. Thân màu trắng, tay cầm rìu báu.
10. Chân Đạt La: còn gọi là Châu Đổ La, Chiếu Đầu La, dịch ý là Chấp Tưởng. Thân màu vàng, tay cầm quyên sách hoặc bảo bổng.
11. Chiêu Đổ La: còn gọi là Chu Đổ La, Chiếu Đầu La, dịch ý là Chấp Động. Thân màu xanh, tay cầm bảo chùy.
12. Tỳ Yết La: còn gọi là Tỳ Già La, dịch ý là Viên Tác. Thân màu đỏ, tay cầm bảo luân hoặc tam cổ.
Còn có thuyết cho rằng 12 vị Thần Tướng ứng với 12 giờ trong ngày, trong 4 mùa ứng với 12 tháng, luân chuyển hộ trì chúng sanh, nếu lấy 12 chi (12 con giáp) phối với 12 vị Thần Tướng thì mỗi vị là bổn mạng của mỗi con giáp.
Cung Tỳ La là hóa thân của Di Lặc Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Hợi.
Phạt Chiết La là hóa thân của Đại Thế Chí, là thần hộ mạng tuổi Tuất.
Mê Súy La là hóa thân của Phật Di Đà, là thần hộ mạng tuổi Dậu.
An Để La là hóa thân của Quán Thế Âm, là thần hộ mạng tuổi Thân.
Át Nể La là hóa thân của Ma Lợi Chi, là thần hộ mạng tuổi Mùi.
San Để La là hóa thân của Hư Không Tạng, là thần hộ mạng tuổi Ngọ
Nhân Đạt La là hóa thân của Địa Tạng Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Tỵ.
Ba Di La là hóa thân của Văn Thù Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Thìn.
Ma Hổ La là hóa thân của Phật Dược Sư, là thần hộ mạng tuổi Mão.
Chân Đạt La là hóa thân của Phổ Hiền Bồ tát, là thần hộ mạng tuổi Dần.
Chiêu Đổ La là hóa thân của Kim Cang Thủ, là thần hộ mạng tuổi Sửu.

Tỳ Yết La là hóa thân của Phật Thích Ca, là thần hộ mạng tuổi Tý.

Thông tin này là của bạn : TienThinhNG & damquangvinh FROMhttp://www.thegioivohinh.com

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Phần 3: Tương hợp giữa các thiên can và địa chi

Tương hợp giữa 2 Can, hoặc khi 2 hay 3 Chi hợp với nhau, môn dự đoán qua tứ trụ nói đến sự liên đới của chúng như một tuần hoàn tự nhiên đại diện cho các khía cạnh của đời sống con người. Những khía cạnh đó được phân loại qua 10 thần (ten gods). Những "vị thần" này không phải Chúa, Thượng đế hoặc thần thánh nào cả, mà chỉ những đại diện cho các mặt đời sống của con người qua sự liên hệ từ Can ngày mà ra.

Những điều cần nắm căn bản về sự hợp lại của Can hoặc Chi:
  • Chỉ có 2 Can hợp với nhau hoặc hợp giữa 2 hoặc 3 Chi.

  • Không có việc Can hợp Chi hoặc Chi hợp Can.

  • CHI hợp mạnh hơn Can hợp.

  • CAN hợp với nhau chỉ thành khi có chi thuộc hành mà nó hóa thành có ở địa chi.

  • Trong tứ trụ và vận hạn, khi xảy ra vừa có Chi hợp và Can hợp, sức mạnh nghiêng về loại Chi hợp.

  • Tam hội của Chi và Tam hợp mạnh hơn Lục hợp.

  • Sự tương hợp giữa các chi hoặc can không phải lúc nào cũng tốt. Nếu nhật chủ không thể chuyển sức mạnh của chúng thành hiện thực thì sẽ lĩnh hậu quả tai hại, bị lạm dụng, quấy rầy không yên. Đó là nói đến thân quá nhược hoặc ngũ hành của sự hợp hóa kia có tác hại đến dụng thần.

  • Gọi là bán tam hợp hay bán tam hội khi chỉ có 2 chi trong tam hợp hoặc tam hội được hình thành và chỉ có tác dụng khi chi thứ ba xuất hiện trong đại vận hoặc lưu niên. Khi có lực Xung xảy ra đồng thời trong tứ trụ, bán tam hợp không chế ngự được Xung hoàn toàn, trừ khi ngũ hành của sự hợp hóa là vượng khí làm cản trở lực Xung.

  • Sự hợp hóa của thiên can và địa chi nếu không có gốc là khí vượng trong mùa sinh thì sự hợp hóa yếu kém, không thành tựu. Giải thích dễ hiểu nhất cho việc hợp hóa có gốc hay không này là thành ngữ "mưu sự tại thiên, thành sự tại nhân". Có nghĩa là nhân tố quyết định cho mọi sự thành công, dù là chính hay thiên, đều nằm ở nhân nguyên là Can tàng trong Chi.

1. Tam hợp dụng ngũ hành mạnh nhất. Chỉ có 4 hành hội tụ, không có hành Thổ.
    • Thân-Tí-Thìn, hợp hóa thành Thủy
    • Hợi-Mão-Mùi,  hợp hóa thành Mộc
    • Dần-Ngọ-Tuất,  hợp hóa thành Hỏa
    • Tỵ-Dậu-Sửu,  hợp hóa thành Kim

2. Tam hội dụng mùa mạnh nhất.
    • Dần-Mão-Thìn, mùa Xuân
    • Tỵ-Ngọ-Mùi, mùa Hạ
    • Thân-Dậu-Tuất, mùa Thu
    • Hợi-Tý-Sửu, mùa Đông

3. Lục hợp dụng sức mạnh của thiên can có thể hóa ngũ hành được hợp nhất trừ 2 chi Ngọ-Mùi
    • Tý-Sửu > Thổ
    • Dần-Hợi > Mộc
    • Mão-Tuất > Hỏa
    • Thìn-Dậu > Kim
    • Tỵ-Thân > Thủy
    • Ngọ-Mùi
Các sự hợp và hóa tìm thấy trong tứ trụ gọi là Nội hợp. Nếu xảy ra giữa tứ trụ và đại vận, hoặc lưu niên thì xem là Ngoại hợp. Vì xảy ra ở vận hạn nên ngoại hợp không nhất thiết có tác động lên chính bản thân mà phải xem 10 thần đại diện. Đôi khi cha mẹ, vợ chồng, con cái là những đối tượng của sự tác hợp đó.

Thiên can hợp hóa dụng sức mạnh của ngũ hành:
    • Giáp-Kỷ hợp hóa Thổ
    • Ất-Canh hợp hóa Kim
    • Bính-Tân hợp hóa Thủy
    • Đinh-Nhâm hợp hóa Mộc
    • Mậu-Quý hợp hóa Hỏa

Sự hợp hóa của thiên can biểu lộ một sự kết hợp nghiêng về một ngũ hành, một sự hội họp hay liên doanh khi xảy ra trong vận. Ý nghĩa của Can hợp chính là tâm tính của bản thân, như một "thiên mệnh" hoặc "nghiệp báu".


* Giáp-Kỷ hợp trung chính, độ lượng.
* Ất-Canh hợp nhân nghĩa, vị tha.
* Bính-Tân hợp nhục dục, đầy sức sống.
* Đinh-Nhâm hợp trung kiên, nghĩa khí.
* Mậu-Quý hợp vô tình, hời hợt.

Mỗi một loại hợp trên đều có thể hóa khí mới trong điều kiện cho phép của mùa sinh và tâm tính hợp hóa đó chỉ xảy ra khi trải qua đại vận mang hành hóa mới. Thí dụ Ất-Canh hợp hóa Kim thành công trong trụ, đến vận Canh, Tân là cao điểm để thực nghiệm lòng vị tha và trung thành. Ngược lại, đối với hôn nhân lại có thể là thời điểm gãy đổ, ly thân hoặc ly dị.

Các chi hợp hóa thành công hay không cũng do mùa sinh. Thìn hợp Tỵ chỉ hóa Thủy vào mùa đông hàn khí tụ. Nếu có lục hợp này trong mùa hạ thì khi vào vận Nhâm, Quý, sự hóa hợp mới thành hình. Hỏa khí mới của Dần-Ngọ-Tuất rất yếu trong mùa đông, nhưng không phải là sự hình thành này không có ích lợi. Đến vận Bính, Đinh sẽ phát triển được sức mạnh này.

Khi kết hợp thành công sẵn trong tứ trụ, hành hóa khí mới sẽ đại diện cho 10 thần (Tài, Quan, Ấn, Tỷ, Thực). Vấn đề là khía cạnh nào của đời sống được thăng hoa hay bị xâm phạm tùy vào sự vượng hay nhược hay nhật chủ.

Chủ chốt của vấn đề hợp hóa còn do trụ mà Can hay Chi hợp. Nếu là trụ năm và trụ tháng thì việc xảy ra đối với gia đình, ông bà, cha mẹ, anh em ruột. Xảy ra ở trụ ngày là nói đến chồng, vợ, nhà ở và chính bản thân. Tại trụ giờ là liên hệ đến công việc, sự nghiệp và con cái.

Nếu Kiêu, Ấn bị ảnh hưởng bởi sự hợp hóa, vấn đề sức khỏe của bản thân hay cha mẹ ông bà sẽ xảy ra. Tỷ hoặc Kiếp được hình thành thì vào vận hóa sẽ có nhiều cuộc hội họp và bạn bè mới. Tài vận mà gặp hóa hợp thuận lợi thì sẽ có cơ hội phát tài. Nhưng phải nghĩ rằng nếu hành hóa mới là kỵ thần phá hoại thì có nguy cơ phá sản, các dự án không thành hình hoặc tang chế trong gia đạo.

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Lá số của Mark Zuckerberg:

Hình ảnh

Lá số được viết lại như sau:

Năm, Tháng, Ngày, Giờ.

Giáp Tý, Kỷ Tỵ, Mậu Thân, Kỷ Mùi

Đại vận:

7 Canh Ngọ, 17 Tân Mùi, 27 Nhâm Thân, 37 Quý Dậu, 47 Giáp Tuất, 57 Ất Hợi, 67 Bính Tý.

Tỷ phú Lý Gia Thành và phong thủy mộ phần

Người Trung Quốc ngày nay nghe tới cái tên Lý Gia Thành không ai là không biết. Bởi đó là cái tên của người giàu có nhất Trung Quốc trong suốt 30 năm qua và cũng là tỷ phú giàu thứ 9 thế giới theo đánh giá của Tạp chí Forbes với tổng số tài sản lên tới 30 tỷ đô la Mỹ.

Cái sự giàu có của tỷ phú họ Lý thì là chuyện đã rồi, không ai là không thừa nhận. Thế nhưng vì sao Lý Gia Thành có thể giàu có tới mức như vậy? Người ta cho rằng, nguồn gốc tạo nên sự phát tài của họ Lý không phải là số mệnh, cũng chẳng phải là nhờ tòa biệt thự có địa thế rất đẹp ở Hồng Kông mà chính là nhờ vị trí mộ tổ của gia tộc họ Lý vẫn còn nằm ở Quảng Đông…
Người Trung Quốc cho rằng, sở dĩ họ Lý giàu được như vậy, một là nhờ số mệnh, hai là do phong thủy của tòa biệt thự triệu đô của Lý Gia Thành ở Hồng Kông. Trên thực tế, phân tích của các nhà Lý học không phải không có lý.
Tỷ phú Lý Gia Thành
Tuy nhiên, phải khẳng định ngay rằng, trong tứ trụ của Lý Gia Thành không hề có bất cứ dấu hiệu nào dự đoán rằng ông ta sẽ trở thành người giàu nhất Trung Quốc. Nói Lý Gia Thành giàu nhờ mệnh tốt, e là không hợp lý. Vậy còn phong thủy thì sao? Phải nói ngay rằng, phong thủy tạo nên tiền bạc, hay ảnh hưởng tới sự sang - hèn, thọ - yểu của một đời người có sự khác biệt về bản chất đối với phong thủy quyết định vận mệnh.
Chẳng hạn như trường hợp của Lý Gia Thành, ông ta xây dựng biệt thự ở Hồng Kông sau khi đã phát tài. Như vậy, phong thủy của tòa biệt thự này trong cuộc đời của Lý Gia Thành là phong thủy về sau. Mặc dù nó có ảnh hưởng tới vận mệnh về sau của Lý Gia Thành, tuy nhiên nó không thể so sánh với phong thủy tiên thiên mang ý nghĩa quyết định vận mệnh của Lý Gia Thành được. Vậy cái gọi là phong thủy tiên thiên có ý nghĩa quyết định đó của Lý Gia Thành nằm ở đâu? Các nhà phong thủy cho rằng, nó nằm ở nơi phát tích của tổ tiên gia tộc họ Lý.
Gia tộc họ Lý vốn quê gốc ở Phúc Kiến, thời cuối Minh, đầu Thanh mới chuyển tới Quảng Đông, đến Lý Gia Thành đã trải qua 10 đời. Gia tộc họ Lý vốn có truyền thống thi thư. Ông nội Lý Gia Thành là tú tài trong khoa thi cuối cùng của triều Thanh. Cha ông - Lý Vân Kinh - cũng từng là hiệu trưởng một trường tiểu học ở Triều An.
Tới năm 1941, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, Nhật Bản tấn công Trung Quốc. Để tránh sự tàn phá, giết chóc của chiến tranh, cha Lý Gia Thành đưa cả ra đình từ Triều Châu tới Hồng Kông lánh nạn. Như vậy, có thể nói phong thủy của tổ tiên họ Lý không thể ở Hồng Kông được mà phải ở Triều Châu. Vì thế, để lý giải nguyên nhân Lý Gia Thành trở nên giàu có như vậy, không thể không xem phong thủy mộ tổ của họ Lý.
Mộ tổ của gia tộc họ Lý nằm bên bờ sông Hàn Giang, một huyệt, gồm 3 mộ, lưng dựa vào cung Khôn, hướng mặt về cung Cấn. Hai nhân vật quan trọng nhất của gia tộc họ Lý là Lý Bằng Vạn - cố nội của Lý Gia Thành và Lý Hiểu Phàm - ông nội của Lý Gia Thành được an táng trong ngôi mộ này. Vào năm 1987, sau khi đã trở nên giàu có, Lý Gia Thành đã đem di cốt của tổ tiên họ Lý cải táng, cho cùng về một hướng như hiện tại.
Cố nội của Lý Gia Thành - Lý Vạn Bằng - là tiến sĩ thời cuối Thanh, nhờ biểu hiện xuất sắc trong cuộc thi tại Điện Văn Hoa đã trở thành một trong những người được triều đình tuyển chọn trong kỳ tuyển chọn 12 năm mới tổ chức một lần.
Những năm cuối đời, Lý Vạn Bằng từ quan về quê, quy táng ở bên bờ sông. 10 năm sau, con trai thứ của Vạn Bằng là Hiểu Phạm cũng mất, được chôn cất ở bên phải mộ của Lý Vạn Bằng. Vì sao cha con Lý Vạn Bằng lại quyết định cùng chôn ở một nơi? Rồi sau đó, những hậu duệ dòng họ Lý đều rất mực “trung thành”, đem mộ tổ của dòng họ mình tập trung tại nơi đây? Lý do giải thích duy nhất chính là vì, họ Lý đã nhìn ra long huyệt hiếm có ở nơi đây.
Ngọn núi tổ của mộ phần dòng tộc họ Lý chính là đỉnh Đồng Cổ Chướng - đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Liên Hoa. Dãy Liên Hoa nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Đông, chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, đi xuyên qua vùng phía Đông của Quảng Đông, có nhiều ngọn núi cao hàng ngàn mét, trở thành một tấm bình phong chắn toàn bộ khu vực này. Dãy Liên Hoa là dãy núi quan trọng nhất của miền Đông tỉnh Quảng Đông, kéo dài khoảng 200km.
Ở phía Đông Bắc của dãy Liên Hoa còn có núi Âm Na, mạch núi từ Quảng Đông chạy theo hướng Đông kéo dài tới gần Hồng Kông. Mang hình dáng của một bông sen năm cánh, ngọn núi Âm Na là một trong những ngọn núi lừng danh đối với các nhà phong thủy.
Nó là ngọn núi thái tổ của mộ phần tổ tiên Lý Quang Diệu và cũng có liên quan không ít tới mộ tổ của gia tộc họ Lý mà chúng ta đang nói tới. Trong vòng 100 năm, ngọn “tổ sơn” này đã sinh ra những nhân vật kiệt xuất trong lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế cho người Trung Quốc.
Mộ tổ của Lý Gia Thành cũng nằm trên mạch núi Liên Hoa này và có liên quan tới ngọn núi Âm Na nổi tiếng. Tuy nhiên, ngọn núi tổ của mộ phần gia tộc họ Lý thì nằm cách ngọn Âm Na khoảng gần 30km. Đó chính là ngọn Đồng Cổ nằm ở huyện Phong Thuận, thành phố Mai Châu.
Ngọn Đồng Cổ cao 1.559m so với mực nước biển, chính là phần chạy ra sông Hàn Giang của dãy Liên Hoa. Dường như để tìm kiếm cơ hội kết hợp sơn và thủy, long mạch liên tục chạy ra hướng bờ sông Hàn Giang. Hàn Giang vốn có tên là Viên Thủy, phần thượng du phân thành Mai Giang và Thinh Giang, tổng cộng chiều dài lên tới 659,4km. Đối với long mạch, phần quan trọng nhất chính là phần trung du của Hàn Giang.
Phía Tây Bắc là nơi ngã ba hội tụ ba dòng sông, phía Đông Nam, tại Triều Châu, Hàn Giang phân thành ba nhánh Đông, Tây, Bắc đổ ra biển. Ba giang hợp lại thành một, rồi sau đó lại tách thành ba, đổ ra biển. Mộ tổ nhà họ Lý đã chọn đúng vị trí trên đoạn sông mà ba con sông đã hợp thành một, nơi dòng chảy mạnh nhất để đặt mộ. Tuy nhiên, đoạn hợp lưu này cũng kéo dài tới hàng trăm cây số, vấn đề là phải chọn được vị trí có sự kết hợp thuận lợi nhất giữa dòng chảy và long mạch của ngọn núi tổ - ngọn Đồng Cổ.
Về lý thuyết, tại đoạn sông này, có một vị trí phong thủy tốt hơn nhiều so với vị trí đặt mộ hiện tại của gia tộc họ Lý. Tuy nhiên, không hiểu vì sao tổ tiên Lý Gia Thành đã không lựa chọn nó. Đó là nơi mà hai bờ sông bị các dãy Đồng Cổ và dãy núi Phượng Hoàng ở phía Nam thị trấn Quy Hồ chạy sát tới bờ, bóp chặt hai bên khiến dòng chảy bị nhỏ lại.
Tuy nhiên, các nhà phong thủy cho rằng sự vận hành của long mạch thường vượt ra ngoài những suy nghĩ thông thường. Vì vậy, có lẽ việc Lý Vạn Bằng bỏ qua vị trí mà nhiều người cho là đắc địa này không phải không có nguyên nhân của nó.
Sông Hàn Giang
Sau khi bị bóp chặt vì hai dãy núi ở hai bên, dòng Hàn Giang tiếp tục chảy xuống phía Nam. Tuy nhiên, nhờ có nguồn nước bổ sung của suối Phượng Hoàng và kênh Cao Thổ, dòng nước của sông Hàn Giang ngày càng mạnh hơn. Khi chảy tới núi Trúc Sơn, cách thành Triều Châu khoảng 2km thì ngọn núi thấp ở phía Tây Hàn Giang là Khâu Lăng xuất hiện một lòng trũng hướng về phía Đông Bắc. Tại phía Tây Bắc thành Triều Châu, các dãy núi liên tục giao thoa với Hàn Giang, dãy Liên Hoa và Phượng Hoàng từ hai phía Đông và Tây cùng lúc tác động khiến dòng sông uốn lượn, xuất hiện sự tụ kết của long mạch.
Tổ tiên của Lý Gia Thành đã không bỏ qua cơ hội hiếm hoi này, lựa chọn vùng đất trũng ở phía Đông Bắc của ngọn Trúc Sơn, quay mặt về hướng Đông Bắc, nhìn ra đoạn uốn khúc của sông Hàn Giang. Nằm cách bờ sông Hàn Giang chỉ vài trăm mét, nước tới từ cung Càn, ra ở cung Ất, có thể nói là nơi tàng phong tụ khí, một vị trí đặt mộ đắc địa về phong thủy.
Để lý giải phong thủy đắc địa của mộ tổ họ Lý, cần phải vượt ra khỏi những khuôn khổ của quan niệm phong thủy truyền thống. Quan niệm phong thủy vốn có câu “Cửa trời thì mở, cửa đất thì đóng”, tức là nói nơi đất tốt thì nước phải bắt nguồn ở đó và cũng đóng ở đó. Tuy nhiên, có phải tất cả các trường hợp đều như vậy không? Câu trả lời là không. Trường hợp của mộ tổ họ Lý là một ví dụ rất điển hình.
Do sông Hàn Giang dưới tác động của các dãy núi nằm ở hai bên bờ sông nên tới trước mộ của tổ tiên họ Lý thì uốn khúc. Điều này khiến vị trí mộ của tổ tiên Lý Gia Thành dù không phải là nơi bắt nguồn của nước mà vẫn có nguồn gốc của nước, đồng thời cũng không có nước chảy đi. Vì thế, dù không giống như địa thế thường thấy trong mô tả của các nhà phong thủy, song địa thế mộ tổ của nhà họ Lý vẫn là nơi hội tụ được tất cả những điểm tốt nhất của một nơi đặt mộ huyệt.
Ngoài ra, ngọn núi kết huyệt của mộ tổ họ Lý chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, ứng với vị trí của Thổ tinh. Tuy nhiên, Thổ tinh này có nhiều điểm khác với Thổ tinh thông thường. Một huyệt núi dài không tới 200m, mặt quay về phía sông Hàn Giang, bên cao bên thấp, ở giữa hình thành một đoạn lõm xuống.
Nếu nhìn từ xa, trông ngọn núi này sẽ rất giống với hình một con trâu. Hình dáng một con trâu nằm, theo phong thủy, gọi là huyệt Mục đồng thương khuân (kho lúa của mục đồng). Đất có hình trâu nằm thì nên đặt huyệt mộ tại đâu? Theo quan niệm phong thủy truyền thống, huyệt mộ có thể đặt tại một trong các vị trí mũi, mắt, sừng, chân, tai, bụng của con trâu. Tổ tiên họ Lý đã lựa chọn ngay phần bụng của trâu để đặt mộ. Đây là một lý do nữa khiến mộ tổ của Lý Gia Thành có được vị trí phong thủy đắc địa.

Tứ trụ của Lý Gia Thành
Hình ảnh

Bằng Hư - Bài đăng trên ấn phẩm chuyên đề báo ĐSPL.

Thứ Tư, 29 tháng 5, 2013

Phần 2: Cách an 10 thần của Tứ trụ .


  
Trong mỗi tứ trụ, can ngày được gọi là Nhật Can, nó đại diện cho người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là ngôi nhà của người có tứ trụ đó). Hành của can ngày được gọi là hành của Thân (Thân còn được gọi là Nhật Chủ) của người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là thân thể của người có tứ trụ đó)

  I – Nhật Can và Thân 

Trong mỗi tứ trụ, can ngày được gọi là Nhật Can, nó đại diện cho người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là ngôi nhà của người có tứ trụ đó). Hành của can ngày được gọi là hành của Thân (Thân còn được gọi là Nhật Chủ) của người có tứ trụ đó (hiểu đơn giản nó là thân thể của người có tứ trụ đó). Qua đó chúng ta có thể so sánh hành của Thân với 4 hành còn lại (sau khi đã xét khả năng tác động giữa các can chi trong tứ trụ với nhau) để xem hành của Thân là mạnh hay yếu (thường được gọi là Thân vượng hay nhược). Đây là một khâu vô cùng quan trọng cho việc dự đoán vận mệnh của con người.

II - Mười thần của tứ trụ 

1 - Mười thần 
Nhật Chủ chính là tôi, bản thân tôi, hành của Thân chính là hành của tôi, cho nên quan hệ của nó với các hành khác như sau :
a - Cái sinh ra tôi chính là mẹ, mẹ kế người ta gọi là: Chính ấn (1), thiên ấn (2).
b - Cái tôi sinh ra là con cái, người ta gọi là : Thực thần (3), thương quan (4) .
c - Cái khắc tôi tức là tôi bị khống chế, người ta gọi là : Chính quan (5), thiên quan (6) đều là sếp, cấp trên của tôi.
d - Cái tôi khắc là cái bị tôi khống chế, người ta gọi là : Chính tài là tiền hay là vợ của tôi (7), thiên tài là tiền hay là cha của tôi (8).
e - Cái ngang tôi là anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, người ta gọi là : Ngang vai, thường gọi tắt là tỷ (9) và kiếp tài, gọi tắt là kiếp (10).
Đó chính là mười thần có liên quan với tôi trong tứ trụ.

Ví dụ : Nếu Tứ Trụ của tôi có can ngày (tức Nhật Can) là Tân mà Tân mang hành Kim thì Thân của tôi là hành Kim, vì vậy ta có :
Mậu (Thổ) sinh cho Tân (tôi) được gọi là chính ấn (vì can dương sinh cho can âm nên gọi là chính), thường được gọi là Ấn. Kỷ (Thổ) sinh cho Tân được gọi là thiên ấn (vì can âm sinh cho can âm nên gọi là thiên), thường được gọi là Kiêu.
Tân sinh cho Nhâm (Thủy), vì vậy Nhâm được gọi là Thương Quan và sinh cho Quý (Thủy), vì vậy Quý được gọi là Thực Thần.
Bính (Hỏa) khắc Tân, vì vậy Bính được gọi là chính quan, thường được gọi là Quan, Đinh (Hỏa) khắc Tân, vì vậy Đinh được gọi là thiên quan, thường được gọi là Sát.
Tân khắc Giáp (Mộc), vì vậy Giáp được gọi là Chính Tài, Tân khắc Ất (Mộc), vì vậy Ất được gọi là Thiên Tài.
Tân gặp can Tân được gọi là ngang vai, thường được gọi là Tỷ, Tân gặp Canh thường được gọi là Kiếp.
Cách để xác định mười thần của Nhật Chủ trong các Tứ Trụ khác cũng tương tự như vậy.

2 – Tương sinh của 10 thần 

Ví dụ: Một tứ trụ có Nhật Can (can ngày) là Tân (hay Canh) vì Tân mang hành Kim nên Thân của người này mang hành Kim, thì ta có sơ đồ tương sinh của mười thần như sau:
Description: Posted Image

Qua sơ đồ ta thấy sự tương sinh của 10 thần hoàn toàn giống như sự tương sinh của ngũ hành.

3 – Tương khắc của 10 thần 
Mười thần là tài, quan, ấn, thực, thương….. của các can lộ hay tàng trong các địa chi trong tứ trụ. Mối quan hệ sinh khắc giữa chúng chính là mối quan hệ sinh khắc của ngũ hành. Mười thần nghiêng về phân tích người và sự việc, còn ngũ hành nghiêng về phân tích mức độ khí chất bẩm sinh của con người. Cả hai cái bổ xung cho nhau, không được xem nhẹ bên nào.

Ví dụ : Giả sử hành của chính quan của 1 tứ trụ là Mộc, chính quan đại diện cho chức vụ, quyền lực, thi cử,…. , vì vậy khi nó bị hành của thương quan là Kim khắc quá mạnh dễ bị mất chức, mất quyền, thi trượt,…… . Còn theo ngũ hành thì Mộc đại diện cho đầu, mặt, vai, tay, chân, gan, mật, thần kinh,… khi bị Kim khắc quá mạnh thì những bộ phận này dễ bị tổn thương. Trong trường hợp Mộc (hay chính quan) không bị khắc nhưng nếu có quá nhiều Mộc trong tứ trụ thì khi gặp tuế vận (đại vận và lưu niên) có nhiều Mộc hay có nhiều các hóa cục Mộc thì người đó cũng dễ bị các tai họa như vậy.

Nếu Tân (hay Canh) là Nhật Can thì ta có sơ đồ tương khắc của 10 thần của nó như sau : 
Description: Posted Image

Qua sơ đồ trên ta nhận thấy sự tương khắc của mười thần hoàn toàn tương tự như sự tương khắc của ngũ hành (tương khắc cách 1 ngôi).

Khi xét các thần trong tứ trụ và giữa tứ trụ với tuế vận ta phải căn cứ vào sự vượng suy của các thần (tức hành của nó), nếu thần nào quá vượng thì cần được xì hơi là tốt (tức là nó cần được sinh cho các thần khác), còn ngược lại nếu sinh hay giúp đỡ thêm cho nó thì dễ có tai họa. Tương tự nếu thần nào quá yếu thì nó cần được sinh hay được phù trợ cho vượng lên và dĩ nhiên nó rất sợ bị khắc. Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể biết thần đó là mạnh hay yếu? Muốn biết, chúng ta phải dựa vào bảng sinh vượng tử tuyệt để xem nó có vượng hay nhược ở tuế vận, cũng như xem nó có xuất hiện nhiều hay ít ở trong tứ trụ và ở tuế vận (bởi vì nếu thần đó là nhược nhưng có nhiều thì nó cũng có thể trở thành mạnh). 

4- Sự sắp xếp tàng can trong 12 địa chi:

Trong thế giới thực tại, tuy con người được tạo ra bởi sự giao hoa của trời đất nhưng thực tế con người sống gần gũi với đất hơn là với trời. Điều này được thể hiện rõ qua việc can tàng ẩn trong địa chi, nó thể hiện sự gần gũi của con người và đất.Địa chi ôm ấp can tàng <=> Sự tổ hợp của can tàng tạo ra địa, đây là mệnh đề mang tính chất tương đương 2 chiều.
Vì vậy nắm bắt rõ sự sắp xếp can tàng ẩn trong địa chi sẽ góp phần giúp ta hiểu chính xác hơn về lá số và có những luận giải đúng đắn.

* TÝ: QUÝ
* SỬU: KỶ - TÂN - QUÝ
* DẦN: GIÁP - BÍNH - MẬU
* MÃO: ẤT
* THÌN: MẬU - QUÝ - ẤT
* TỴ: BÍNH - MẬU - CANH
* NGỌ: ĐINH - KỶ
* MÙI: KỲ - ẤT - ĐINH
* THÂN: CANH - NHÂM - MẬU
* DẬU: TÂN
* TUẤT: MẬU - ĐINH - TÂN
* HỢI: NHÂM - GIÁP

Ví dụ : An thập thần  lá số tứ trụ , nữ mệnh sinh 20/4/1990, 4h30 sáng


  Quan                   Quan             Thân                   Tài  
  Canh                   Canh                Ất                    Mậu
   Ngọ                    Thìn               Mão                   Dần
Đinh, Kỷ           Mậu, Quý, Ất        Ất            Giáp, Bính, Mậu

5 - Tính chất của mười thần .
Mười thần trong tứ trụ đại diện cho công năng, chức vụ, quyền lực, tình cảm, tính cách, nghề nghiệp,…..như sau:

1 - Chính quan là cái khắc tôi, đại diện cho quan chức tốt, chính trực trong chính quyền điều hành xã hội, mà con người phải tuân theo pháp luật nhà nước, nói chung chính quan được coi là cát thần, nhất là khi Thân vượng.
Công năng của chính quan trong mệnh là bảo vệ tài, áp chế Thân, khống chế tỷ và kiếp. Thân vượng tài nhược thì nên có chính quan để bảo vệ tài. Thân vượng mà ấn nhược thì chính quan sẽ sinh ấn và chế ngự Thân cho bớt vượng. Thân vượng kiếp nhiều thì chính quan sẽ khắc chế kiếp.
Trong mệnh chính quan đại diện cho chức vụ, học vị, thi cử, bầu cử, danh dự, …. . Với nam Chính quan còn đại diện cho tình cảm với con gái. Vì nam lấy tài làm vợ, tài sinh quan và sát là con, nên nam lấy quan làm con gái, sát làm con trai (vì âm, dương khác với nhật can là con gái, giống là con trai).
Tâm tính của chính quan : chính trực, có tinh thần trách nhiệm, đoan trang nghiêm túc, làm việc có đầu có đuôi. Nhưng dễ bảo thủ cứng nhắc, thậm chí là người không kiên nghị.

2 - Thất sát (thiên quan) là cái khắc tôi, nó thường đại diện cho quan lại xấu trong chính quyền. Trong mệnh thất sát chuyên tấn công lại Thân, cho nên Thân dễ bị tổn thương, khi đó cần có thực thương tới để khắc chế thất sát thì lại trở thành tốt (nghĩa là bắt quan xấu phải phục vụ cho mình “thất sát hóa thành quyền bính“). Nói chung khi Thân nhược thất sát được coi là hung thần.
Công năng của thất sát làm tổn hao tài, sinh ấn, công phá Thân, khắc chế tỷ kiếp.
Trong mệnh thất sát đại diện cho chức vụ về quân cảnh, hoặc nghề tư pháp, thi cử, bầu cử … Với nam thất sát còn đại diện cho tình cảm với con trai.
Tâm tính của thất sát, hào hiệp, năng động, uy nghiêm, nhanh nhẹn ... .Nhưng dễ bị kích động, thậm chí dễ trở thành người ngang ngược, trụy lạc …

3 – Chính ấn là cái sinh ra tôi, khi Thân nhược thường được coi là cát thần, ấn có nghĩa là con dấu, đại diện cho chức vụ, quyền lợi, học hành, nghề nghiệp, học thuật, sự nghiệp, danh dự, địa vị, phúc thọ …. Chính ấn là sao thuộc về học thuật và còn đại diện cho tình cảm của mẹ đẻ.
Công năng của chính ấn, sinh Thân, xì hơi quan sát, chống lại thực thương.
Tâm tính của chính ấn, thông minh, nhân từ, không tham danh lợi, chịu đựng nhưng ít khi tiến thủ, thậm chí còn chậm chạp, trì trệ....

4 – Thiên ấn (Kiêu)là cái sinh phù tôi, đại diện cho quyền uy trong nghề nghiệp như nghệ thuật, nghệ sĩ, y học, luật sư, tôn giáo, kỹ thuật, nghề tự do, những thành tích trong dịch vụ.... Nó còn đại diện cho tình cảm của dì ghẻ.
Công năng của thiên ấn sinh Thân, xì hơi quan sát để sinh cho Thân, chống lại thực thương . Mệnh có thiên ấn có thể phù trợ cho Thân nhược. Nhưng gặp thực thần là mệnh lao dịch, vất vả. Thiên ấn quá nhiều thì đó là người phúc bạc, bất hạnh, tật bệnh hoặc con cái khó khăn khi đó chỉ có thiên tài mới có thể giải được các hạn này. Người mà tứ trụ có Thân vượng, còn có kiêu, tài và quan tất là người phú quý. Mệnh có thiên ấn lại còn gặp quan sát hỗn tạp (có cả chính quan và thiên quan, không tính Quan và Sát là tạp khí ) là người thắng lợi nhiều mà thất bại cũng lắm. Nói chung khi Thân vượng thiên ấn được coi là hung thần.
Tâm tính của thiên ấn, tinh thông tay nghề, phản ứng nhanh nhậy, nhiều tài nghệ, nhưng dễ cô độc, thiếu tính người, thậm chí ích kỷ, ghẻ lạnh...

5 – Ngang vai là ngang tôi (là can có cùng cùng hành và cùng dấu với Nhật Can), gọi tắt là tỷ. Đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, đồng nghiệp, cùng phe phái, tranh lợi, đoạt tài, khắc vợ, khắc cha ,… Nữ đại diện cho tình chị em, nam đại biểu cho tình anh em.
Công năng của ngang vai có thể giúp Thân khi Thân nhược, cũng như tài nhiều (của cải nhiều) nhờ ngang vai giúp Thân để khỏi mất của. Nhưng Thân vượng lại có ngang vai nhiều mà không bị chế ngự là tay chân cấp dưới không hòa thuận, hoặc kết hôn muộn, tính tình thô bạo, cứng nhắc, cố chấp, không hòa hợp với cộng đồng, khắc cha, khắc vợ, làm nhiều mà không gặp tiền của.
Tâm tính của ngang vai, chắc chắn, cương nghị, mạo hiểm, dũng cảm, có chí tiến thủ, nhưng dễ cô độc, ít hòa nhập, thậm chí cô lập, đơn côi. Nói chung khi thân vượng ngang vai được coi là hung thần (vì lúc đó nó tranh đoạt tài với Thân).

6 - Kiếp tài cũng là ngang tôi (là can cùng hành nhưng khác dấu với Nhật Can), gọi tắt là kiếp. Nó đại diện cho tay chân cấp dưới, bạn bè, tranh lợi đoạt tài, khắc vợ, khắc cha, lang thang.... Thân vượng mà có nhiều kiếp cũng giống như ngang vai ở trên. Nữ đại diện cho tình anh em, nam đại diện cho tình chị em....
Công năng của kiếp cũng giống như của ngang vai.
Tâm tính của kiếp tài là nhiệt tình, thẳng thắn, ý chí kiên nhẫn, phấn đấu bất khuất, nhưng dễ thiên về mù quáng, thiếu lý trí, thậm chí manh động, liều lĩnh....

7 - Thực thần là cái mà nhật can sinh ra (cùng dấu với Nhật Can). Đại diện cho phúc thọ, người béo, có lộc. Nữ đại diện cho tình cảm với con gái.
Công năng của thực thần làm xì hơi Thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm quan bị tổn thương. Khi gặp sát thì có thể chế phục làm cho Thân được yên ổn không có tai họa, nên nói chung được xem là cát thần.
Tâm tính của thực thần, ôn hòa, rộng rãi với mọi người, hiền lành, thân mật, ra vẻ tốt bề ngoài nhưng trong không thực bụng, thậm chí nhút nhát, giả tạo. Can chi đều có thực thần thì phúc lộc dồi dào, nhưng không thích hợp cho người công chức mà thích hợp với những người làm nghề tự do. Mệnh nữ có thực thần là hay khinh rẻ chồng. Thực và sát cùng một trụ là người có dịp nắm quyền bính nhưng dễ bị vất vả, lao khổ, tai ách và ít con. Can có thực thần, chi có ngang vai là chủ về người có thân thích, bạn hữu hoặc tay chân giúp đỡ. Can là thực thần, chi là kiếp tài là chủ về người phúc đức giầu có, khi gặp điều xấu vẫn có lợi. Thực thần có cả kiếp tài, thiên ấn đi kèm là người dễ đoản thọ (?). Người tài nhiều thì diễm phúc ít. Thực thần lâm trường sinh vượng địa hoặc cát thần thì phúc lộc nhiều, phần nhiều là người phúc lộc thọ toàn diện. Thực thần lâm tử, tuyệt, suy thì phúc ít, bạc mệnh. Thực thần lâm mộ địa là người dễ chết yểu (?).

8 – Thương quan cũng là cái nhật can sinh ra (nhưng khác dấu với Nhật Can). Đại diện cho bị mất chức, bỏ học, thôi việc, mất quyền, mất ngôi, không chúng tuyển, không thi đỗ, không lợi cho người nhà và chồng. Nữ đại diện cho tình cảm với con trai.
Công năng của thương quan làm xì hơi Thân, sinh tài, đối địch với thất sát, làm thương tổn quan. Sợ nhất là “thương quan gặp quan là họa trăm đường ập đến“. Nói chung thương quan được xem là hung thần, nhất là khi Thân nhược.
Tâm tính thông minh, hoạt bát, tài hoa dồi dào, hiếu thắng, nhưng dễ tùy tiện, thiếu sự kiềm chế ràng buộc, thậm chí tự do vô chính phủ....
Người thương quan lộ rõ (lộ và vượng) tâm tính thanh cao hiên ngang, dám chửi mắng cả quỷ thần. Nhật Can vượng thì lại càng hung hăng hơn, loại người này tính xấu. Những người bề trên cũng không dám đụng đến nó, kẻ tiểu nhân thì càng sợ mà lánh cho xa. Nhưng thương quan vượng mà Thân nhược thì tính tình vẫn là thương quan, chỉ có điều không ghê gớm đến như thế. Thương quan trong tứ trụ nếu có Thân vượng thì nó là hỷ dụng thần khi hành đến vận tài phú quý tự nhiên đến.

9 – Chính tài là cái bị Thân khắc (có dấu khác với Nhật Can) là cái nuôi sống tôi. Đại diện cho tài lộc, sản nghiệp, tài vận, tiền lương. Còn đại diện cho vợ cả (với nam).
Công năng là sinh quan và sát, xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần làm hại chính ấn. Nói chung chính tài được coi là cát thần.
Tâm tính cần cù, tiết kịêm, chắc chắn, thật thà, nhưng dễ thiên về cẩu thả, thiếu tính tiến thủ, thậm chí trở thành nhu nhược, không có tài năng....
Người Thân vượng, tài vượng là bậc phú ông trong thiên hạ, nếu có cả chính quan là phú quý song toàn, nam thì được vợ hiền nội trợ tốt. Ngược lại người Thân nhược mà tài vượng thì không những nghèo mà cầu tài rất khó khăn, trong nhà vợ nắm quyền hành. Tài nhiều thường không lợi cho đường học hành, là người dốt nát. Địa chi tàng tài là tài phong phú, tài thấu ra là người khảng khái. Tài có kho (ví dụ : nếu ất là tài thì kho là dần và mão hay tàng trong các chi Thổ) khi gặp xung tất sẽ phát tài (như tài là Ất, Mậu hay Quý tàng trong Thìn khi gặp Tuất ở tuế vận xung Thìn). Thân vượng có chính tài còn gặp thực thần là được vợ hiền giúp đỡ. Chính tài và kiếp tài cùng xuất hiện trong tứ trụ thì trong cuộc đời dễ gặp phải tiểu nhân nên tài dễ bị tổn thất.

10 – Thiên tài cũng là cái bị Thân khắc (nhưng cùng dấu với Nhật Can) cũng là cái nuôi sống tôi. Đại diện cho của riêng, trúng thưởng, phát tài nhanh, đánh bạc, tình cảm với cha. Với nam còn đại diện cho tình cảm với vợ lẽ.
Công năng của thiên tài: sinh quan sát, xì hơi thực thương, áp chế kiêu thần, làm hại chính ấn. Nói chung thiên tài được coi là cát thần.
Tâm tính của thiên tài, khảng khái, trọng tình cảm, thông minh, nhậy bén, lạc quan, phóng khoáng, nhưng dễ thiên về ba hoa, bề ngoài, thiếu sự kiềm chế, thậm chí là người phù phiếm....
Thiên tài đại diện cho cha hoặc vợ lẽ, hoặc nguồn của cải bằng nghề phụ. Thân vượng, tài vượng, quan vượng thì danh lợi đều có, phú quý song toàn. Thiên tài thấu can thì kỵ nhất gặp tỷ và kiếp, vì như thế vừa khắc cha lại làm tổn hại vợ (với nam). Can chi đều có thiên tài là người xa quê lập nghiệp trở lên giầu có, tình duyên tốt đẹp, của cải nhiều. Thiên tài được lệnh (vượng ở tháng sinh) là cha con hoặc thê thiếp hòa thuận, được của nhờ cha hoặc nhờ vợ, cha và vợ đều sống lâu, vinh hiển (?). Thiên tài lâm mộc dục là người háo sắc phong lưu. Thiên tài lâm mộ địa là cha hoặc vợ dễ chết sớm (?).

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2013

Tìm hiểu 24 tiết khí


二十四节气
24 tiết khí
按照中国农历的纪年法,每个月都有两个节气,一年共有24个节气。
Theo cách tính năm âm lịch của người Trung Quốc thì mỗi tháng có 2 tiết khí, như vậy trong 1 năm sẽ có 24 tiết khí.
节气是中国农历特有的。中国古人在长期的生产劳动中,逐渐认识到地球绕太阳运行一周的时间是固定不变的365又1/4天,他们把它叫做“一年”;又根据太阳和地球的相互关系,把一年的天数分成2 4等份,用来表示季节和气候的变化。这样,每15天就有一个节气,每个月就有两个节气了。二十四节气在公历中的日期几乎是固定的,上半年(1—6月)的节气都在每个月的6日和21日前后;下半年(7—12月)的节气都在每个月的8日和23日前后。
Tiết khí là một đặc thù của lịch âm Trung Quốc. Trong cuộc sống lao động sản xuất lâu dài, người Trung Quốc cổ đại dần dần nhận thức được rằng thời gian để trái đất quay một vòng quanh mặt trời là 365 ngày 1/4. Người ta gọi số ngày này là 1 năm; lại căn cứ vào mối quan hệ qua lại giữa mặt trời và trái đất để chia số ngày trong 1 năm thành 24 phần bằng nhau để biểu thị sự thay đổi về mùa và khí hậu trong năm. Như vậy, cứ mỗi 15 ngày lại có 1 tiết khí, mỗi tháng có 2 tiết khí. 24 tiết khí về cơ bản rơi vào các ngày gần như cố định theo dương lịch. Tiết khí trong 6 tháng đầu năm (từ tháng 1 đến tháng 6) đều rơi vào các ngày trước hoặc sau ngày 06 và ngày 21; tiết khí của 6 tháng cuối năm (từ tháng 7 đến tháng 12) đều rơi vào các ngày trước hoặc sau ngày 08 và ngày 23.
二十四节气的名称和意义分别是:
Tên gọi và ý nghĩa các tiết khí như sau:
立春、立夏、立秋、立冬,表示四季的开始。
Lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông: biểu thị sự bắt đầu của 4 mùa.
春分、秋分,是一年中昼夜一样长的两天。
Xuân phân, thu phân: là 2 ngày có thời gian ngày đêm dài như nhau trong năm.
夏至, 是一年中白天最长、黑夜最短的一天。
Hạ chí: là ngày có thời gian ban ngày dài nhất, ban đêm ngắn nhất trong năm.
冬至, 是一年中白天最短、黑夜最长的一天。
Đông chí: là ngày có thời gian ban ngày ngắn nhất, ban đêm dài nhất trong năm.
雨水,是开始下雨的意思。
Vũ thủy: có nghĩa là bắt đầu mưa.
惊蛰, 表示春雷响过以后,冬眠的昆虫被惊醒了。
Kinh trập: nói lên sự việc sau khi có tiếng sấm xuân thì côn trùng ngủ đông bừng tỉnh giấc.
清明, 是说春天到了以后,明净的春色代替了冬季寒冷枯黄的景色。
Thanh minh: sau khi mùa xuân đến, màu sắc xanh tươi của mùa xuân sẽ thay thế cảnh lạnh lẽo u ám của mùa đông.
谷雨, 表示从此雨水增多,对五谷的生长很有好处。
Cốc vũ: có nghĩa là bắt đầu từ ngày này lượng nước mưa sẽ tăng, có lợi cho việc trồng trọt.
小满,表示在夏季成熟的农作物籽粒开始饱满了。
Tiểu mãn: nói lên các hạt, quả của mùa hè đã bắt đầu chín, đầy đặn.
芒种,告诉人们小麦已经成熟了。
Mang chủng: nói cho mọi người biết rằng lúa mạch đã chín.
小暑、大暑,表示天气炎热的程度,大暑是一年中最热的时候。
Tiểu thử, Đại thử: biểu thị mức độ nóng của thời tiết, Đại thử là ngày nóng nhất trong năm.
处暑,表示炎热的天气快要过去了。
Xử thử: nói lên rằng những ngày nóng nực sắp qua đi.
白露,告诉人们开始下露水,天气就要冷了。
Bạch lộ: nói cho mọi người biết rằng đã bắt đầu có sương, thời tiết sắp lạnh rồi.
寒露,表明露水已重,天寒加剧。
Hàn lộ: chứng tỏ sương đã rất nhiều, thời tiết sẽ lạnh thêm.
霜降,是开始下霜的意思。
Sương giáng: có nghĩa là bắt đầu có sương.
小雪、大雪,表示到了下雪的时节和雪量大小的差别。
Tiểu tuyết, đại tuyết: chứng tỏ đã đến lúc có tuyết rơi và sự khác biệt về lượng tuyết rơi.
小寒、大寒,表示冬天寒冷的程度,大寒是一年中最冷的时候。
Tiểu hàn, đại hàn: nói lên mức độ lạnh của mùa đông, ngày đại hàn là ngày lạnh nhất trong năm.
二十四节气对中国的农业生产起很大的作用,人们为了方便记忆,还编出了“二十四节气歌”:春雨惊春清谷天,夏满芒夏暑相连,秋处露秋寒霜降,冬雪雪冬小大寒……
24 tiết khí có vai trò to lớn trong sản xuất nông nghiệp tại Trung Quốc. Để tiện cho việc ghi nhớ, người ta đã sáng tác bài hát về 24 tiết khí. Nội dung bài hát như sau: Xuân vũ kinh xuân thanh cốc thiên, hạ mãn mang hạ thử tương liên, thu xử lộ thu hàn sương giáng, đông tuyết tuyết đông tiểu đại hàn...
theo trang WEB của Học Viện Khổng Tử